lienson | 26 January, 2012 21:58
Đi hội đầu năm Đầu năm đến hội lại lên Đường về Kinh Bắc người nêm cùng người Mưa phùn lất phất buông rơi Râm ran mầm nụ đất trời xanh hơn, Sân đình trai đẹp, gái son Cùng lời hẹn biển, thề non mặn nồng. Người ơi có nhớ người không Để câu ca cứ nao lòng người ơi. Bao nhiêu ánh mắt lả lơi Mà mai hội đã tan rồi còn đâu? Thôi thì chờ đến năm sau Mùa Xuân ta lại hẹn nhau cùng về... Bắc Ninh, tháng Giêng TB
lienson | 22 January, 2012 16:55
Thời khắc sang xuân
Tản văn của Trọng Bảo
Thời khắc sang Xuân trời mưa nhẹ. Cơn mưa là trời đất giao hòa, thiên nhiên đang chuyển dịch. Một năm cũ đã qua, một năm mới đến, ước mong, dự cảm lại trào dâng, đón đợi và hy vọng. Bao kiếp con người lận đận suốt ba trăm sáu lăm ngày tha phương chiều ba mươi Tết được quay quần quanh mâm cỗ cúng tổ tiên, ông bà. Hạnh phúc thật nhỏ nhoi nhưng thật là thiêng liêng mà không phải ai cũng có được. Trong những mái nhà của bao người trên đất nước này không phải gia đình nào cũng có một không khí của thời khắc sang xuân quây quần đầm ấm, hạnh phúc.
Khi tôi ngồi bên chiếc máy vi tính viết tản văn này là 15 giờ ngày cuối cùng của năm cũ thì trên chương trình VTV2 là mục “nhắn tìm đồng đội”. Những cái tên liệt sĩ được người phát thanh viên run run xướng lên vào lúc sắp sang Xuân và câu hỏi: “Ai biết mộ liệt sĩ ở đâu xin báo tin cho thân nhân liệt sĩ và ban chỉ huy quân sự…” nghe thật thê lương. Ngày tất niên, trong mùi hương nhang phảng phất đâu đây lòng tôi bỗng thấy nao nao khi nghe mục “nhắn tìm đồng đội”. Vậy là hơn ba mươi năm sau chiến tranh vẫn còn những người mẹ chờ mong tin con, người vợ nhớ chồng, vẫn có những linh hồn lưu lạc chưa trở về quê hương đất mẹ. Và, cũng trong ngày cuối cùng của năm cũ này bao người mẹ bưng bát cơm tất niên đứng tựa cửa đợi con, người vợ ngồi bên nồi bánh chưng ngóng tin chồng. Mà những người lính ấy ra đi hơn ba mươi năm rồi không về quê ăn tết...
lienson | 19 January, 2012 15:12
Mùa xuân lạnh lẽo
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Mưa phùn lất phất. Gió bấc thổi ù ù. Tôi phải giảm bớt ga giảm tốc độ xe máy cho đỡ rét buốt và đỡ bị những giọt mưa lạnh lẽo bay táp vào mặt. Cái rét khiến tôi thấy con đường về quê như kéo dài ra xa hơn.
Qua thị trấn Hương Canh tôi dừng lại ở chỗ bán đồ gốm sứ ven đường. Tôi tính mua một cái chậu nhỏ để trồng cây phong lan rừng mà anh bạn đi Điện Biên về mới cho. Đang nhấc một cái chậu đất nung lên xem thì một ông mặc bộ quần áo mưa cũ kỹ, bám bẩn đầy bùn đất tay ôm một cái bát cắm nhang cứ ngó tôi trừng trừng rồi reo lên:
- Ôi… anh Hà! Đúng là anh rồi…
- Ơ… ơ… ông… - Tôi ngạc nhiên không hiểu vì sao ông ta lại biết tên mình. Tôi chăm chú nhìn ông ta một lúc rồi reo lên: - Ông là… À… à… tao… tao nhận ra rồi. Mày là thằng Thứ!
- Vâng! Đúng là em đây!
- Sao mày lụ khụ thế này hả?
- Thì em là nông dân, quanh năm lăn lê, bò toài ngoài ruộng, khổ hơn cả thời lính tráng ấy thì làm gì mà chả lụ khụ?
Nghe nó giải thích, tôi chợt nhớ là đã ba mấy năm rồi còn gì. Thì ra trong tâm trí tôi lúc nào cũng cứ nghĩ nó còn trẻ như là ngày nhận cánh lính mới đưa lên biên giới dạo nào.
- Thế mày đi mua bát nhang đem về chuẩn bị bàn thờ tết à?
- Tết nhất gì! Em mua cái bát nhang này để đem ra mộ thằng Hào đây!
- Thằng Hào nào! Có phải thằng Hào cùng cánh lính bảy tám với mày phải không?
- Đúng là nó đấy!
- Thế đã tìm thấy và đưa nó về quê rồi à?
- Vâng…
- Mộ nó ở đâu?
- Ở gần đây thôi anh ạ!
Tôi quyết định:
- Thế thì mày dẫn tao đi thăm nó luôn nhé!
- Vâng anh đi với em! Anh em mình qua thị trấn mua ít hoa quả, kiếm lấy một cân xi-măng. Ta đem cái bát nhang này ra gắn trên mộ nó. Hôm trước, nhân dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ em đến thăm mộ nó thấy cái bình cắm nhang bị đám trẻ con nghịch hay trâu bò phá đã bị vỡ rồi…
- Ừ…
Chúng tôi mua ít hương hoa, gói bánh quy và cân xi măng rồi ra mộ thằng Hào. Mộ nó ở chôn ở sườn một quả đồi nhỏ cạnh hai ngôi mộ khác. Đó là mộ của bố mẹ nó. Cả ba ngôi mộ đều đã được xây gạch cẩn thận. Thằng Thứ đốt một nén nhang rồi lầm rầm khấn khứa câu gì đó. Đoạn nó dùng con dao găm cũ kỹ nạy bỏ cái bát nhang vỡ gắn phía dưới mộ thằng Hào. Nó đặt cái bát nhang mới vào rồi trộn tý xi-măng gắn lại. Tôi thắc mắc là tại sao lại không đưa hài cốt thằng Hào vào nghĩa trang liệt sĩ. Thằng Thứ giải thích tại nhà nó tự ý đem nó từ biên giới về, giấy tờ không đủ nên địa phương chưa cho đưa vào nghĩa trang liệt sĩ. Bây giờ thì người thân nó không còn ai nên mọi giấy tờ, thủ tục vẫn chưa hoàn chỉnh. Với lại ý nguyện của bố mẹ thằng Hào muốn nó nằm bên cạnh mình ở nơi sườn đồi lộng gió này.
Châm mấy nén nhang cắm lên mộ thằng Hào và mộ của bố mẹ nó, tôi lại thấy lạnh thêm khi nhớ về những ngày đã qua ấy.
lienson | 15 January, 2012 22:03
Đi chợ hoa xuân
Tản văn của Trọng Bảo
Trời lất phất mưa. Rét bắt đầu tăng cường nhưng trên các nẻo đường phố phường Hà Nội không khí chuẩn bị đón tết lại càng thêm sôi động. Có lẽ biểu hiện rõ nhất chính là khắp các ngõ ngách bắt đầu nhuộm màu của sắc hoa. Hoa là biểu hiện đẹp nhất của mùa Xuân. Dọc hai bên đường Hoàng Quốc Việt rực rỡ màu hoa đào, sáng màu của hoa lan, của quất. Tất cả đều tươi roi rói.
Tôi rẽ vào trung tâm Triển lãm Nông nghiệp, nơi bày bán rất nhiều hoa phong lan. Những quầy hoa phong lan muôn màu sắc, hoa li đang ngậm nụ. Mỗi chậu hoa lan hồ điệp, địa lan đều từ hơn một triệu trở lên cho đến hàng chục triệu. Nói chung hoa phong lan là loại hoa của người giàu, người thừa tiền, hoặc những người thiếu tiền nhưng vẫn phải cắn răng bòn túi, móc ví để mua đem kính biếu cấp trên. Tôi gặp một đôi vợ chồng trẻ đang ngả giá mua một chậu địa lan rất đẹp với giá năm triệu đồng. Hình như họ cũng mua để đem dâng lãnh đạo nên xem chừng rất đắn đo tiếc tiền, mặc cả khá lâu. Nhìn những chùm hoa lan kiếm Trần Mộng, Sa Pa rất đẹp tôi cũng ước gì mình có được một chậu để chơi và sau tết thử đem về vườn ở quê trồng thử xem năm tới nó có ra hoa không.
Ngược lên đường Hoàng Hoa Thám là phố chợ hoa nổi tiếng của đất Hà thành. Ở Hoàng Hoa Thám có cả loại hoa cho những người tỷ phú, cũng có cả hoa cho lớp người bình dân. Tại những quầy hoa lan của các vườn lan nổi tiếng có những trụ lan đai châu (Nghinh xuân) giá từ mười triệu đồng đến hai, ba mươi triệu đồng. Nhưng cũng có những giò lan hồ điệp chỉ có một cành hoa giá độ vài chục đến vài trăm nghìn đồng. Đặc biệt ở đây có đủ các loại hoa, các loại cây. Con đường nhỏ hẹp, đông người, mua bán ồn ào, chen nhau chật chội nhưng xem ra ai cũng vui vẻ hỷ hả. Tôi nhích dần từng đoạn giữa cây hoa và người nhốn nháo suốt một đoạn đường dài, vừa đi vừa ngắm hoa, nhìn người. Tôi hỏi giá một cây đào dáng rồng loại nhỏ, giá tám trăm nghìn đồng, chắc phải sáu bảy trăm họ mới bán. Năm mới là năm rồng nên nhiều loại cây được uốn theo hình dáng đang bay lên của con rồng. Mọi người đều muốn năm mới mình sẽ được bay lên, thăng hoa, rũ hết mọi khốn khó, lầm than của năm cũ.
Đến cầu cạn Văn Cao thì gặp cơ man nào là hoa mai. Hoa mai từ miền Nam đổ bộ ra miền Bắc giữa mùa đông lạnh giá nhưng đang nở rộ. Những chậu hoa mai vượt ngàn trùng dặm xa đem một nét xuân phương Nam về với đất kinh thành. Còn một tuần nữa mới Tết nên giá hoa mai đang cao. Một chậu mai đẹp loại nhỏ giá vài triệu đồng.
lienson | 11 January, 2012 18:16
BÃI GIỮA
Truyện ngắn của Trọng Bảo
4- Thư phải bơi chiếc thuyền thúng ra bãi Giữa vì dải nước phía làng Phù Liễn rất sâu và chảy khá mạnh. Anh ra rất sớm, khi trời còn chưa tối hẳn để chờ Ngọc. Khi vừa nhác thấy bóng Ngọc rẽ xuống bến sông phía bên kia bờ Thư đã lội ào sang đón. Anh giơ tay nắm tay Ngọc dắt cô lội qua luồng nước cạn. Đây là lần đầu tiên anh nắm tay Ngọc. Bàn tay cô gái nhỏ nhắn và rất ấm.
Hai người lội ra phía bãi Giữa. Trời đã tối. Ánh đèn điện từ thị trấn không thể sáng tới bãi sông, chỉ có ánh trăng đang dần dần soi tỏ trên mặt nước. Bãi cát phía hạ lưu dưới ánh trăng thật đẹp. Những hạt cát li ti phán xạ ánh sáng tạo nên những sắc màu long lanh. Gió đầu mùa thu mơn man mát rượi.
Ngọc giằng tay mình ra khỏi tay Thư tung tăng chạy lên bãi cát. Thư chạy theo cô. Hai người chạy khắp bãi cát vẻ thích thú. Đoạn họ ngồi xuống giữa bãi ngắm trăng. Dòng sông phía trước họ chảy loang loáng. Sóng nước dập dềnh. Gió đông năm thổi ngược lên là mái tóc của Ngọc tung bay. Những sợi tóc thơm mùi bồ kết mơn man trên mặt Thư. Anh thích thú khi những sợ tóc trên mái tóc dài của Ngọc cứ vương trên mặt, trên cổ mình tạo nên cái cảm giác hơi nhồn nhột.
Họ ngồi bên nhau mãi như thế. Những câu chuyện rời rạc chẳng ăn nhập gì nhưng như không bao giờ thấy chán. Họ cùng nói về một ước mơ, một ngày mai. Thư kể về một miền rừng Hà Giang có những triền núi đá lô nhô, có con sông Nho Quế sâu thăm thẳm chảy dưới khe núi đá. Anh nói về những chuyến vượt rừng sâu, núi thẳm khảo sát địa chất, về những dòng suối trong xanh hai bên bờ có những chùm hoa phong lan rừng rực rỡ, rất đẹp. Còn Ngọc thì mơ về một ngày mai trở thành cô giáo đứng trên bục giảng nhìn xuống đàn em nhỏ mắt sáng long lanh.
Có lẽ trời đã về khuya. Những tiếng ồn ào hai bên bờ sông lắng xuống. Hai người vẫn chưa muốn về. Trăng đã lên cao càng sáng. Ánh trăng trải mềm trên doi cát trắng. Ánh trăng dát bạc dọc hai bờ sông. Trong cái tĩnh lặng của đêm hai người như nghe rõ từng nhịp thở của nhau. Chợt có một cơn gió từ mặt sông thổi hất lên. Ngọc hơi rùng mình co hai vai lại. Thư hỏi:
- Em lạnh à? Hay chúng ta về nhé!
- Chưa… em chưa muốn về…
Ngọc khe khẽ đáp và ngồi nhích lại sát bên Thư. Gió tung mái tóc xoã rối tung lên mặt Thư. Ngọc vội đưa tay vuốt mái tóc. Thư cũng giơ tay lên đỡ mái tóc dày của Ngọc cho khỏi rối. Hai bàn tay họ gặp nhau. Hai bàn tay run rẩy rồi xiết chặt lấy nhau. Thư vòng tay ôm lấy đôi vai nhỏ nhắn và mềm mại của Ngọc. Rồi chẳng hiểu ai làm gì trước, họ ghì chặt lấy nhau, rối rít trao nhau nụ hôn đầu tiên. Và rồi hối hả, cuống cuồng. Thư lúng túng lập cập mãi mới tháo được cái móc phía sau tấm lưng trần của Ngọc. Họ cởi và ném tất cả các thứ đang mặc trên người ra xung quanh. Vội vã. Gấp gáp. Thư run cầm cập khi lần đầu trong đời đặt tay lên bộ ngực tròn căng thanh tân của người con gái. Và, cũng là lần đầu tiên anh nhìn thấy và chạm vào những nơi bí mật nhất của người con gái. Hai người quấn chặt vào nhau lăn lộn trên bãi cát trắng. Da thịt họ cũng trắng và mịn màng như cát trắng và trong trắng như ánh trăng trong. Khi đã mệt nhoài rồi họ vẫn không muốn rời nhau. Họ ôm nhau thiếp đi một lát trên bãi cát rơi đầy ánh trăng. Cả hai chỉ thực sự chìm vào giấc ngủ sâu sau khi đã thâm nhập vào nhau thêm một lần nữa.
lienson | 10 January, 2012 15:49
BÃI GIỮA
Truyện ngắn của Trọng Bảo
1- Mấy năm nay, tự dưng giữa dòng con sông Cái phía trước làng Phù Liễn xuất hiện một bãi sa bồi. Bãi bồi cứ lớn dần sau từng mùa lũ. Những lớp phù sa dày xếp lên nhau đỏ sậm. Có lẽ khi cây cầu xi-măng với những cái trụ rất lớn phía thượng lưu được xây dựng đã làm biến đổi dòng chảy, tạo nên bãi bồi này. Sông Cái mùa thu nước rất cạn. Nước sông càng cạn khi nhà máy thuỷ điện đầu nguồn đóng cống tích nước để phát điện. Vùng bãi bồi mơn mởn phù sa non, mơn mởn cỏ xanh. Mùa thu đến bọn trẻ chăn thường giong trâu ra bãi sa bồi giữa sông chăn thả. Đàn trâu háu đói chỉ ngoạm một lúc đã đầy căng bụng. Trong khi đó thì bọn trẻ lội xuống dòng sông cạn nô đùa, mò tôm cá, bắt trai hến đem lên bãi giữa nướng ăn. Cuối buổi chiều, bọn trẻ mới lùa đàn trâu no căng về làng. Chúng cưỡi trên lưng trâu vượt qua nhánh sông phía bên làng Phù Liễn nước còn khá sâu và chảy hơi xiết.
Bãi bồi quả là một tặng phẩm bất ngờ của thiên nhiên dành cho dân làng Phù Liễn. Bãi phù sa màu mỡ giữa sông ấy ngày càng mở rộng mãi ra. Khi bãi sa bồi định hình dân làng rủ nhau chèo thuyền thúng ra phá hoang gieo trồng. Chả cần chăm bón gì, chỉ cần chọc lỗ nhét xuống vài hạt ngô, hạt lạc hay đỗ tương sau vài tháng là đã có ngay thu hoạch. Những bắp ngô to hạt mẩy căng, đỗ tương, lạc thì sai quả, nhiều củ. Mùa mưa nước lũ đổ về dòng sông mênh mông tiếp tục bồi đắp thêm phù sa cho bãi Giữa ngày càng màu mỡ. Cái tên bãi Giữa là do dân làng Phù Liễn đặt. Mỗi khi nhắc đến bãi Giữa người làng Phù Liễn đều rất thích thú vì gieo trồng hoa màu ở đây cho năng xuất cao, cá tôm xung quanh bãi cũng nhiều, dễ đánh bắt. Bởi bãi Giữa rộng, hầu như cả làng, nhà nào cũng có một khoảnh đất để gieo trồng. Rồi có một chiếc lều canh gác hoa màu xuất hiện giữa bãi. Nhưng hầu như ở bãi giữa chả ai lấy trộm của ai. Dân làng bảo nhau “Bãi Giữa là của trời cho, đừng quá tham lam mà hết lộc”. Cho nên thi thoảng mới có người ngủ đêm tại bãi. Đó là những người đặt chuyên lờ tôm, quây đăng chắn cá khi mùa nước cạn. Căn lều chỉ là nơi những người dân ban ngày ra canh gác trâu bò lúc lạc ngô đang lên xanh và tránh nắng, trú mưa cho người đi làm ngoài bãi.
Đối diện với làng Phù Liễn phía bên kia sông là thị trấn phố huyện. Người ở phố huyện chuyên buôn bán, không làm nông nghiệp nên họ chả tranh giành gì đất đai trồng trọt ở bãi sa bồi với dân làng Phù Liễn. Có chăng thỉnh thoảng khi sông cạn nước lội qua được họ hay kéo ra bãi Giữa để mua ngô non, mua lạc tươi vừa mới nhổ đem về luộc ăn chơi. Chỉ có cánh học sinh phổ thông, sinh viên các trường cao đẳng là rất hay kéo nhau ra bãi Giữa làm một cuộc píc-níc nhỏ, cắm trại liên hoan vui chơi trên doi cát trắng phau, mịn màng phía cuối bãi.
lienson | 06 January, 2012 17:40
Nhà ta mất ruộng rồi Con ơi! Nhà ta mất ruộng rồi! Cả cánh đồng thu hồi để làm nhà máy Để nước mình tiến lên hiện đại, Không còn cảnh con trâu đi trước cái cày, Nông dân không lo lấm láp chân tay Mùa đông lạnh lội bùn đi cấy! Ruộng nhà mình từ ông bà để lại Hạt lúa, củ khoai, rơm rạ bao đời Sao mà thân thiết quá con ơi… Con còn nhớ cái thời lẫm chẫm Theo mẹ ra đồng nghịch đất, đùa chơi, Ruộng nhà mình nhiều châu chấu lắm Con vồ hụt hoài đứng khóc giữa luống ngô. Củ khoai con đào được bất ngờ Vui cùng tiếng cười ngây thơ nắc nẻ. Ruộng của nhà mình mỡ màu là thế, Tháng năm nuôi con lớn nên người. Con học hành nơi thành phố xa xôi Mỗi bát cơm quê có giọt mồ hôi cha mẹ Có cả hạt phù sa nhỏ bé Trên luống cày thửa ruộng nhà ta, Bao cơn mưa, trận lũ đi qua Lúa chín chưa đều ngã xô nghiêng ngả Bố mẹ dầm mình rờ mò từng gốc rạ Tay chạm vào con cá, con cua, Rồi những lo âu mưa hạn chiêm mùa Và niềm vui râm ran cùng vụ gặt. Bữa cơm mới bây giờ cũng mất. Làng ta nay chất ngất nhà cao tầng Đường làng láng bóng xi-măng Bàn chân đi không vương rơm rạ Trẻ con không còn vấp ngã Khi bước vào những vết chân trâu… Con ơi thế là từ nay về sau Nhà ta không còn ruộng nữa, Con cố học hành nên người, làm cán bộ Nhưng đừng quên lối cũ trở về làng Qua nơi cánh đồng thưở ấy hãy hình dung Có một cánh cò vẫn bay trong ký ức... HN, ngày 4-1-2012 TB (*) Viết nhân đọc thư một nông dân gửi cho con.
lienson | 04 January, 2012 18:04
Bầu lãnh đạo
Truyện ngắn thiếu nhi của Trọng Bảo
Khu rừng nọ có nhiều loại muông thú cùng chung sống. Mỗi loại một cách kiếm ăn, sinh hoạt khác nhau. Tuy vậy, chúng đều phải tuân thủ sự lãnh đạo của chúa tể khu rừng. Đó là lão Gấu già. Muôn loài phục tùng lão răm rắp. Lão Gấu quanh năm chẳng phải làm gì vẫn có bọn dê, cừu, hươu, nai, cáo, chồn, chim chóc, ong bướm phục dịch. Lão thèm ăn cái gì là bọn chúng đều phải đem đến cung phụng. Chỉ cần lão kêu nhạt miệng là lũ ong dâng mật. Lão bảo đói bụng là bọn khỉ, tê tê, chuột chũi đã đưa các loại quả, củ ngon lành tới ngay.
Chính vì thế mà vị trí lãnh đạo khu rừng của lão rất nhiều người mong được ngồi vào. Năm nay, lão Gấu đã quá già và ốm yếu lắm rồi. Nhất là sau cái bận lão sơ ý bị bọn thợ săn bắn thuốc mê rồi hút gần hết túi mật. Vì thế lão muốn từ chức, nhường vị trí lãnh đạo cho con khác trong khu rừng. Ý lão muốn bàn giao quyền lực cho anh Hổ. Nhưng anh Hổ cứ khăng khăng từ chối. Lâu nay anh rất ngại xuất hiện trước đám đông. Anh thường trốn biệt tận hang sâu nơi rừng xanh núi đỏ. Anh sợ bọn thợ săn nhìn thấy "đòm" luôn cho một phát rồi đưa vào nồi nấu cao. Vì nghe nói xương của anh chữa được bách bệnh. Anh Tê Giác cũng vậy. Sừng của anh chữa được ung thư nên khi làm lãnh đạo đi lại nghênh ngang nhỡ con người mà bắt gặp thì khó mà tháo chạy.
Trong khi Hổ và Tê Giác từ chối ngôi vị chủ soái khu rừng thì các loài khác lại tranh nhau đòi lên làm lãnh đạo. Loài này ra sức nói xấu, chê bai, hạ uy tín loài kia. Khỉ chê chó ăn bẩn. Mèo chê cáo gian manh. Bò chê trâu chậm chạp. Rùa chê thỏ hèn nhát... Lão Gấu đâm lúng túng, khó nghĩ, không biết chỉ định ai kế vị. Vì thế, cuộc tìm kiếm, lựa chọn lãnh đạo khu rừng càng trở nên khó khăn. Chú sóc con thông minh bèn rỉ tai lão Gấu:
- Bác cứ tổ chức bầu cử là hay nhất! Ai có phiếu cao thì sẽ lên làm lãnh đạo!
Lão Gấu gật gù khen:
- Đúng... đúng... sáng kiến của chú mày thật hay!
Thế là quyết định bầu lãnh đạo được ban bố, niêm yết khắp khu rừng. Mỗi loài sẽ được cử một đại diện tham gia tranh cử. Tuy vậy đến ngày chốt danh sách có nhiều loài không ứng cử. Bọn voi đắc chí vì chúng nghĩ chỉ có mình mới xứng đáng, chắc chắn phen này sẽ lên làm lãnh đạo. Lũ trăn cũng chủ quan nghĩ rằng chỉ có chúng đủ sức mạnh trị vì. Đám khỉ ngồi ngất ngưởng trên cành cây cao thì cho rằng chỉ có chúng mới đủ trí thông minh để cai quản khu rừng. Voi, trăn, khỉ quảng bá ầm ầm khắp rừng về chương trình hành động của chúng nhằm lôi kéo các cử tri.
Trong khi đó thì thằng Chuột Trù lặng lẽ đi đến từng nhà. Với vẻ mặt buồn bã nó nói với đàn hươu:
- Các bác thương em cả đời gặm nhấm, chui lủi, không ngẩng mặt lên được. Em làm sao mà sánh được bác Voi to lớn, anh Khỉ thông minh và chú Trăn dẻo dai. Em không thể làm lãnh đạo được đâu... Nhưng em đã lỡ ứng cử rồi cũng ngửa tay xin các bác bỏ cho "một phiếu danh dự" để khi thất cử cũng đỡ xấu hổ.
Gặp lũ trâu, đàn bò, bọn cầy, đám sơn dương, lợn rừng, Chuột Trù đều năn nỉ nói như vậy. Tất cả bọn này cũng đều nhận thấy Chuột Trù không thể làm lãnh đạo được. Tuy vậy lúc bỏ phiếu chúng đều thương hại, bỏ cho Chuột Trù một phiếu. Bởi chúng nghĩ chỉ với một lá phiếu của mình Chuột Trù không thể trúng cử được. Nhưng khi kiểm phiếu, bọn chúng mới ngã ngửa ra là Chuột Trù có số phiếu cao nhất. Thì ra, tất cả các loài đều bỏ cho Chuột Trù một lá "phiếu danh dự" thế là nó có số phiếu cao nhất.
Chuột Trù trở thành chúa tể khu rừng nhờ vậy. Với tính cách của loài chuyên gặm nhấm, ăn bẩn như Chuột Trù làm lãnh đạo thì chỉ làm tình hình khu rừng ngày càng trở nên hỗn loạn hơn.
Ngày 6/4/2010
lienson | 03 January, 2012 14:01
Mùa Xuân đang đến rất gần
Tản văn của Trọng Bảo
Hôm nay gió mùa đông Bắc bổ sung. Rét tái tê. Trời đã lạnh lại càng thêm lạnh. Thế nhưng mùa Xuân đang đã đang đến rất gần. Hàng quán, phố xá đã lao xao không khí Tết. Ở chân cầu Thăng Long phía Hà Nội đã bày bán la liệt những gốc đào thế cổ thụ đang ra hoa rất đẹp. Giá cây, hoa đào tết năm nay có thể tăng. Nhưng lạm phát vẫn tăng thì hoa có đắt hơn người mua cũng không chút băn khoăn, ngần ngại. Một năm mới có một mùa Xuân, 365 ngày mới có vài ngày Tết nên không ai không muốn tiêu pha quá tay chút ít cho niềm vui đến sau bao ngày vất vả, lo toan vì cuộc sống.
Năm 2011 qua đi bao nhiêu nghĩ suy, trăn trở. Đất trời biết mấy biến động. Thế gian bao cuộc đổi chiều. Con người vẫn bền bỉ vươn lên cùng thiên nhiên, trời đất dẫu biết còn nhiều điều gian khổ, bất công. Tết đang đến gần mà người nông dân lội chân trong bùn cấy lúa giữa cái rét đại hàn. Người chiến sĩ kiên gan ngoài biển lớn canh giữ chủ quyền của Tổ quốc trong bão tố phong ba. Họ là những người không bao giờ có thưởng Tết. Trong khi đó mức thưởng Tết cao nhất năm nay là 8 tỷ 200 triệu đồng (bao gồm một căn nhà trị giá 8 tỷ đồng và kèm theo 200 triệu đồng tiền mặt), ở thành phố Hồ Chí Minh có những người lĩnh tiền thưởng 700 triệu đồng, bằng phụ cấp 40 năm của một người chiến sĩ; lương của ông đứng đầu ngành điện là 150 triệu đồng/tháng thì người nông dân thu nhập chưa đầy một triệu đồng một tháng. Theo mức thu nhập bình quân đầu người thì Việt Nam ta đã là nước thu nhập trung bình trên thế giới nhưng thực chất thì khoảng cách giàu-nghèo ngày mỗi ngày càng roãng to lớn dần lên mãi. Nhìn những ngôi trường vùng cao, mái nhà thủng như sao, gió lạnh thổi thông thốc tứ phía, nhìn những em bé mặt mũi thâm tím vẫn chân đất cắp sách đến trường chúng ta lại chạnh lòng nghĩ đến ông tổng giám đốc của ngành điện kinh doanh thua lỗ đến hơn hai trăm nghìn tỷ đồng vẫn bình tĩnh nhận lương gần hai tỷ đồng mỗi năm. Quả là sự dũng cảm vô song của vị quan cách mạng. Nhưng đất nước mình là thế. Lòng vị tha, nhân ái cũng luôn luôn ngập tràn. Chỉ một đêm giao lưu “nối vòng tay lớn” qua cầu truyền hình ngày cuối năm mà quyên góp được hàng ngàn tỷ đồng. Có những người giàu quyên góp nhưng có những người chưa giàu, thậm chí còn rất nghèo tham gia quyên góp, chia sẻ cùng đồng bào, cùng những người nghèo khổ. Đồng bào hai tiếng thiêng liêng là thế. Nhưng lòng ta cũng chạnh buồn khi không thấy những ông quan, những ngành có mức lương cao ngất trời ấy đóng góp. Họ hình như đã đứng ngoài niềm vui mừng, nỗi gian lao, sự thống khổ của mọi người. Lợi ích nhóm đã hình thành và đang bó hẹp, chi phối, tha hóa và khống chế lòng từ thiện của những con người ấy. Mà cách mạng lại chính là lợi ích của nhân dân, của toàn dân tộc. Họ có còn là những người cách mạng, những người luôn hô khẩu hiệu vì dân? Điều ấy tự họ cũng đã biết.
Nhưng thôi, bỏ qua sự trăn trở, nghĩ suy bởi vì mùa Xuân đang tới rất gần. Mùa Xuân đến cho trời đất sinh sôi. Sự khô héo, cỗi cằn của mùa Đông sẽ dần biến mất. Vạn sự là thay đổi. Trong quy luật của muôn đời luôn có quy luật của sự đổi mới, phát triển và loại trừ, đào thải. Mọi sự cản ngăn quy luật của tự nhiên ấy tất yếu đều dẫn đến thất bại. Tôi chợt nhớ bài thơ viết vào mùa Xuân năm ngoái có câu: “Thời gian như kẻ vô tình/ Mới tươi mới đấy đã xanh rêu rồi…”. Chờ đón một mùa Xuân mới về đất trời râm ran những hương sắc, âm thanh mới, và xin hãy nhủ lòng mình: TIN Ở MÙA XUÂN.
Hà Nội, ngày 3/1/2012
lienson | 28 December, 2011 15:55
Xin thôi làm nông dân
Tiểu phẩm của Trọng Bảo
Cu Tèo đang học lớp 6. Sinh ra ở một gia đình nông dân nhưng cu Tèo rất ham đọc sách báo. Tiền tiết kiệm, tiền mừng tuổi tết, sinh nhật cu Tèo đều dành mua sách báo để đọc. Từ ngày chị My đang học lớp 12 được bố cho nối mạng Internet để thu thập kiến thức ôn thi vào đại học, cu Tèo còn có thêm niềm vui là vào mạng đọc báo không mất tiền đi mua và còn được chơi games nữa.
Một hôm trong bữa cơm cu Tèo đột nhiên nói với bố:
- Lớn lên con sẽ làm đơn xin thôi không làm nông dân nữa bố ạ!
Bố mẹ và chị cu Tèo đều trố mắt ngạc nhiên. Bố hỏi:
- Nhà ta bao đời nay đều là nông dân, con lớn lên nếu học ngành nghề gì liên quan đến nông nghiệp thì tốt. Con sẽ góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng quê hương, làng xóm của mình giàu đẹp con ạ!
Ông bố nói vậy vì từ lâu ông đã có ý hướng cu Tèo vào nghề nông vì thấy cu cậu có năng khiếu, thích chăm sóc vườn cây, ham mê ghép chiết cam quýt. Cu Tèo lắc đầu giải thích lý do mình “xin thôi không làm nông dân” như sau:
- Bố ạ! Con thấy làm nông dân như bố và ông thì khổ quá! Con đọc báo con biết, hai đời làm nông dân như bố mẹ và ông bà cũng chả có nổi số tiền bằng một tháng lương như của ông tổng giám đốc ngành điện. Ông ấy mỗi tháng lĩnh lương từ 80 đến 100 triệu đồng. Thử hỏi hai đời ông bà, bố mẹ lao động, tích cóp có được một nửa tháng lương của ông ấy không? Hôm qua con xin có 300 nghìn đồng mua sách giáo khoa mà mẹ phải bán 60 ki-lô-gam thóc bằng 3 tháng ăn của một người mới đủ. Mà 60 ki-lô-gam thóc ấy là sản lượng của một sào ruộng/1 vụ mà bố mẹ vất vả chăm bón đấy…
Bố mẹ cu Tèo trợn tròn mắt vì sự tính toán chi li của cu Tèo. Ông bố cố trấn an tư tưởng cu Tèo. Ông giải thích:
- Bác tổng giám đốc ấy là nhà khoa học, bác ấy học hành nhiều, cống hiến nhiều thì hưởng lương phải cao chứ. Con chịu khó học hành thật cao, thật giỏi để sau này sẽ làm việc tốt và có lương cao như thế nhé!
Cu Tèo cãi:
- Chưa chắc học hành nhiều, cống hiến nhiều mà lương cao đâu bố ạ! Con đọc báo thấy cái ông phó giám đốc giao thông và ông giám đốc trung tâm đào tạo lái xe ở Sóc Trăng chỉ học tới lớp 9, kém hơn cả chị My nhà mình mà đã làm quan to, giàu sụ. Hai ông ấy chơi cờ tướng một ván đến 5 tỷ đồng đấy. Nếu một cuộc đời người nông dân tiết kiệm được 50 triệu đồng thì phải 100 đời người nông dân mới bằng một ván cờ của hai ông ấy đấy! Còn ông phó tổng cục trưởng cảnh sát có cả tỷ đồng để ở trong nhà bị kẻ trộm nó vào lấy mất nữa. Số tiền ấy cũng bằng hai mươi đời người nông dân lao động khổ sở… Sao mà họ có lắm tiền đến thế, mà sao nông dân ta lại nghèo đến thế? Vậy nên con quyết xin thôi không làm nông dân nữa bố ạ!
Ông bố lặng im suy nghĩ trước những điều thằng con nói. Sao lại có những chuyện vô lý như thế nhỉ? Nhưng mà nó đọc được trên báo cơ mà, hay là báo họ viết sai? “Mẹ kiếp! Nếu thế thì làm cán bộ sướng thật, làm nông dân khổ thật!” - Ông bố cu Tèo nghĩ. Ông chợt thấy buồn vì bao nhiêu điều tốt đẹp ông vẫn dạy dỗ, định hướng cho thằng con bỗng trở nên chẳng còn ý nghĩa gì nữa.
HN, cuối năm 2011
lienson | 24 December, 2011 21:31
ÔNG NÀY... TÂY LẮM
Tiểu phẩm của Trọng Bảo
Buổi sáng, vừa đến cơ quan, thủ trưởng đã cho gọi anh trợ lý thân cận lên bảo:
- Này! Hôm nay là Noel rồi đấy!
- Vâng ạ! Ta lại cho đóng làm các ông già Noel đi phát quà cho các cháu trong cơ quan như năm ngoái chứ ạ?
- Quà... quà cho bọn trẻ con thì quan trọng gì! Quà cho... sếp mới vừa về nhậm chức mới là quan trọng hiểu không?
- Quà thế nào ạ?
- Ông sếp mới này Tây lắm! Ông ta học ở bên Tây về nên quen sinh hoạt như Tây, ở nhà Tây, ăn cơm Tây, uống toàn rượu Tây, đồ đạc trong nhà cũng đều là do Tây sản xuất. Gặp ông ấy mà không "Hê-lô" hay "Bông-rua" thì chả được việc gì. Vì thế những ngày lễ Tây như Noel, tết dương lịch nhớ là cứ phải quà cáp cho chu đáo hiểu không?
- Mua quà gì bây giờ ạ?
Anh trợ lý băn khoăn. Ông thủ trưởng cơ quan bảo:
- Cậu kém thông minh thế! Thì cứ đồ Tây mà biếu hiểu không?
- Thế thì để em đi mua lấy một chai rượu Tây loại hảo hạng, một hộp bánh Tây, ít dâu Tây khô và... nếu cần thì thêm một ít hành Tây, vài củ khoai Tây nữa...
- Chỉ được cái tếu táo láo! - Thủ trưởng cáu: - Cứ làm "phong bì" cho gọn. Vác các thứ ấy đến để mà chết à! Sếp mà cáu thì tôi với cậu toi luôn.
- Vậy "phong bì" mấy triệu Việt Nam đồng ạ?
- Sao dốt thế! Phong bì cũng phải bằng... đô-la. À quên! Cho mẹ nó EURO vào. Đấy mới đúng là tiền của bọn Tây... 1000 EURO hiểu không?
- Vâng... vâng... Em sẽ chuẩn bị ngay. Tối nay em sẽ mặc trang phục thành ông già NOEL đến nhà đưa tận tay "phong bì" cho sếp...
Đến lượt ông thủ trưởng băn khoăn:
- Nhưng... mà cậu mặc trang phục của ông già NOEL, cắm râu ria vào, sếp nhận quà mà không nhận ra người của cơ quan ta thì chả hoá ra tặng quà toi công à? Thôi riêng về việc này thì đếch cần... Tây tiếc gì hết. Cậu cứ lấy loại phong bì in tên cơ quan ta tống tiền EURO vào. Sếp cầm là nhận ra ngay hiểu không?
- Vâng! Em đi triển khai ngay. Thôi thế cũng gọn. Ông này theo Tây thì Tết nguyên đán âm lịch tới ta cũng đỡ được một khoản chi kha khá...
Thủ trưởng trợn mắt:
- Đỡ là đỡ thế nào? Sếp này thích theo Tây nhưng vợ sếp thì lại theo ta. Mùng một, ngày rằm bà ấy đều đi lễ chùa cầu thần, khấn phật để mong cho chồng nhanh chóng thăng quan, tiến chức, mong cho con cháu được xuất ngoại, đi Tây công tác, học hành... Vậy Tết âm lịch mà không tặng quà cho bà ấy thì sếp có để yên cho ta không! Sao mà cậu ngu lâu thế?
Anh trợ lý bị thủ trưởng mắng oan ấm ức đi ra. Anh vội đến ngân hàng đổi từ tiền ta sang tiền Tây để làm quà Noel cho sếp. Vừa đi, anh vừa lẩm bẩm: "Mẹ kiếp! Theo Tây thì Tây hẳn, theo ta thì ta hẳn! Cứ giả cầy, nửa Tây, nửa ta thế này thì bố nó phục vụ mãi được à???".
Hà Nội, Noel-2008
lienson | 21 December, 2011 14:39
LTG: Năm nào đến ngày kỷ niệm thành lập QĐND Việt Nam 22-12 tôi cũng lang thang ngoài đường. Tôi đi qua những khu phố đông vui, nhà cao cửa rộng, những khu biệt thự giàu sang của những người nhiều tiền. Nhìn cuộc sống thanh bình hôm nay tôi lại nhớ đến những ngày gian khổ ở chiến trường năm xưa và nghĩ về những đồng đội, những người dân mà thịt xương vùi nơi núi rừng biên ải âm u. Truyện ngắn này viết để tưởng nhớ đến họ (Trọng Bảo).
GIÓ NÚI
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Phải đến hơn hai mươi năm rồi, tôi mới lại có dịp trở lại Cao Bằng. Cái thị xã đổ nát, lập loè ánh đèn dầu sau chiến tranh biên giới nay chỉ còn trong ký ức. Tôi nhớ in những đêm chuyển quân, cái rét miền biên ải cắt thịt, cắt da. Tôi cũng không quên cái đói, cái khát của những ngày chiến trận năm nào.
Thị xã Cao Bằng bây giờ đường xá dọc ngang, hàng quần đầy ắp, người bán, kẻ mua nhộn nhịp, xe máy phóng ào ào, gầm rú phun khói mù mịt, không còn thấy cảnh những cô gái cưỡi ngựa xuống chợ Nước Hai. Tiếng nhạc Tây xập xình, không còn nghe tiếng sáo Mông réo rắt lối về Quý Quân, Mỏ Sắt, Thông Nông...
Hỏi thăm mãi rồi tôi cũng tìm được xe về Hà Quảng. Làm việc với cơ quan quân sự xong, tôi ngỏ ý muốn lên thị trấn Sóc Giang cũ. Anh Tài - trợ lý chính sách chợt nhớ ra:
- Ồ! May quá, cậu Ngọc - chiến sĩ của ban là người trên đó. Cậu ấy được nghỉ phép về nhà hỏi vợ. Cậu ấy có xe máy, tiện thể đưa anh đi luôn.
- Thế thì tốt quá!
Anh Tài buông bút nhỏm dậy te tái đi về phía nhà tập thể. Một lát sau, anh quay lại cùng một chiến sĩ độ tuổi đôi mươi dắt chiếc xe máy Trung Quốc mới tinh. Anh bảo:
- May tóm được ở cổng. Suýt thì cu cậu chuồn mất. Đúng là về hỏi vợ có khác...
Người chiến sĩ đỏ mặt ngượng nghiụ. Cậu ta còn rất trẻ, đẹp trai. Cậu ta tháo gói đồ ra buộc lại lấy chỗ cho tôi ngồi.
Chúng tôi ngược lên biên giới. Trời đã về chiều, gió thu lành lạnh. Ngọc ít nói. Dọc đường hỏi chuyện tôi mới biết nhà Ngọc chỉ có hai mẹ con. Mẹ Ngọc ốm luôn. Vùng cao người ta thường dựng vợ, gả chồng sớm. Ngọc cũng muốn chiều ý để mẹ yên tâm, hỏi xong để hai nhà đi lại, còn lâu mới cưới. Ngọc sắp hết nghĩa vụ quân sự, được cử đi học một lớp trung cấp quân đội để chuyển quân nhân chuyên nghiệp.
Về đến đầu thị trấn Sóc Giang cũ, Ngọc hỏi:
- Chú định xuống chỗ nào? Hay là về nhà cháu đã, trời sắp tối rồi...
Tôi vỗ vai Ngọc:
- Yên tâm! Đây là địa bàn hoạt động cũ của chú, nhà nào cũng là nhà quen cả mà!
- Thế chú có biết mẹ cháu không ạ?
- Nhà cháu ở bản nào?
- Ở bản Nà Sao ạ!
- Nà Sao! Ở sát biên giới?
- Vâng ạ! Mẹ cháu tên là Ngân, Hoàng Thị Ngân...
Tôi giật mình, lờ mờ nhớ lại một điều gì đó. Tôi quyết định theo Ngọc về nhà. Tôi chủ quan, cứ nghĩ đến đầu bản sẽ nhớ được mọi chuyện. Bản Nà Sao bây giờ thay đổi rồi. Nhiều ngôi nhà tầng mới xen lẫn nhà sàn, đường đi lối lại cũng khác. Nhưng khi chiếc xe máy của Ngọc chở tôi ngoặt vào một hõm núi thì tôi mới chợt giật mình nhớ dần ra mọi chuyện.
lienson | 19 December, 2011 20:57
Thương ngành điện quá!
Theo như kiểm toán Nhà nước vừa công bố:
Dù hiệu quả kinh doanh không tốt, nhưng mức thu nhập của cán bộ ngành điện vẫn ở mức rất cao. So với mức thu nhập bình quân 7,3 triệu đồng/tháng của cán bộ công nhân viên ngành điện được Tổng giám đốc EVN Phạm Lê Thanh công bố mới đây, thì thu nhập này vẫn rất thấp so với thu nhập thực được Kiểm toán nhà nước thống kê.
Theo đó, thu nhập bình quân toàn Công ty mẹ là 13,7 triệu đồng/người/tháng. Thu nhập bình quân khối truyền tải điện là 10,8 triệu đồng/người/tháng. Thu nhập bình quân khối phân phối điện 7,9 triệu đồng/người/tháng. (Tin báo Tiềnphong online)
Như vậy là với 13,7 triệu đồng/tháng, lương của cán bộ, nhân viên EVN bằng lương của cấp Thiếu tướng trong quân đội và công an. Thế mà ông Tổng giám đốc suýt bật… khóc trước Quốc hội vì thương công nhân của mình ”lương không đủ sống???”. Lạ quá! Lạ quá!!!
Nên ngẫu hứng rằng:
Ngành điện toàn... cấp tướng
Thu nhập cao ngất ngưởng,
Kinh doanh vẫn lỗ dài
Doanh thu luôn đi xuống!
Khốn nạn người tiêu dùng
Tiền điện lại tăng trưởng
Phải móc hầu bao còm
Nộp tiền nuôi kẻ… sướng!
HN, 19/12/2011
lienson | 05 December, 2011 16:27
Gánh hoa của mẹ
Gió lạnh buốt phố phường
Con đường mưa trơn thế
Gánh hoa trên vai mẹ
Vẫn nồng nàn hương thơm…
Vì cuộc sống áo cơm
Mẹ tảo tần mỗi tối,
Cánh hoa tươi chờ đợi
Sưởi ấm những bàn tay.
Cô gái nào đêm nay
Nhận được bông hoa thắm?
Có biết không, lạnh lắm
Gánh hoa trên vai gầy…
Hà Nội, 4/12/2011
TB
lienson | 30 November, 2011 19:15
Lan rừng vườn nhà tôi (ảnh Trọng Bảo)
Phong lan nở sớm
Chưa kịp đến mùa Xuân Phong lan rừng đã nở Cánh hoa xòe bỡ ngỡ Đón gió lạnh đang về. Hà Nội, 30/11/2011 TB
lienson | 29 November, 2011 20:14
Nhân dịp Ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11-2011), Báo Phú Thọ cuối tuần đã đăng truyện ngắn Thầy ơi. Tác giả chân trọng cảm ơn ban biên tập báo và xin pots lại trên blogs này (Trọng Bảo).
lienson | 26 November, 2011 15:39
Thề không tham nhũng
Tiểu phẩm của Trọng Bảo
Thủ trưởng cơ quan Z. có tiếng là liêm khiết. Để xây dựng đơn vị luôn luôn trong sạch, không xảy ra chuyện tham ô, bớt xén của công, ông đề ra một quy định ngặt nghèo cho việc tuyển người vào cơ quan. Một là phải lựa chọn những người thật giàu. Vì theo ông nghĩ đã thật giàu thì họ cần gì phải tham nhũng nữa. Hai là chọn những người thật nghèo. Vì nghèo nếu tham nhũng tự dưng giàu bật lên bất thường là phát hiện được ngay. Ba là, đây là điều kiện bắt buộc đối với tất cả mọi người trong cơ quan dù là cũ hay mới, giàu hay nghèo đều phải tham gia lễ "Thề không tham nhũng".
Do có việc này bởi là một hôm ông nằm mơ được một vị thần ban cho một phép lạ. Để phép có hiệu nghiệm phải tổ chức một cuộc "Thề không tham nhũng". Ai đã thề và ký tên vào văn bản xin thề mà vẫn tham nhũng thì sẽ bị sét đánh chết tươi.
Sau buổi lễ "Thề không tham nhũng", bắt mọi người ký tên đầy đủ, thủ trưởng cho văn bản vào một chiếc hộp nhỏ, khoá lại đặt trên nóc nhà cơ quan. Lời thề là thiêng liêng. Lời thề độc lại càng linh thiêng và đáng sợ hơn. Nhưng cũng có người không tin, sinh ra coi thường, cho đó chỉ là trò đùa của thủ trưởng. Anh cán bộ bảo vệ vì mê đề đóm, thiếu tiền trả quán nên rút trộm mấy thanh sắt, vác vài bao xi măng định đem ra ngoài bán lấy tiền tiêu xài. Đêm hôm anh ta lớ ngớ vác cây sắt chạm luôn vào đường điện hạ thế. Một tiếng nổ vang rền, tia lửa điện đánh "xoẹt" một cái, chân tay bị điện giật co rúm, cháy sém hết tóc. May mà thoát chết. Từ đó anh ta khiếp vía không dám tơ hào của công nữa. Bà cán bộ vật tư mua bán vật liệu xây dựng lòng vòng, khai tăng đơn giá kiếm khối tiền chênh lệch. Vừa đem gói tiền qua cổng cơ quan thì trời nổi cơn giông. Một tiếng sét rền vang. Bà ta hoảng hồn, tay lái loạng choạng, xe máy đâm luôn vào gác chắn đổ vật ngay giữa cổng. Mặt mũi bà ta xây sát. Gói tiền tự dưng bung ra tung toé. Sự việc bị phát giác, ông thủ trưởng cáu lắm. Ông đe mọi người:
- Đã "thề không tham nhũng" rồi mà vẫn còn làm bậy! May mà sét đánh không trúng người...
- Thế mới biết lời thề này ghê gớm thật!
Mọi người trong cơ quan từ đó ai cũng sợ, không còn dám tham nhũng nữa.
lienson | 23 November, 2011 16:12
Một ngày ở quê
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Một ngày ở quê. Đang đi lang thang trên con đường mới mở ven đồi, tôi chạm trán lão Vụ đang cố đạp cần khởi động chiếc xe máy Trung Quốc cũ kỹ. Vừa nhìn thấy tôi, lão Vụ liền reo lên mừng rỡ:
- May quá! Anh xem giúp cái xe… Tự dưng nó giở chứng không chịu đi nữa!
- Bố kiểm tra lại xem hay là hết xăng?
Tôi nhắc lão. Lão càu nhàu:
- Hết là hết thế nào! Vừa đổ xăng lúc sáng, mất mẹ nó cả chục lít rượu sắn đấy!
Tôi đặt khóm cây dương xỉ vừa nhổ được xuống vệ đường để giúp lão Vụ. Tôi đạp liền mấy cái. Chiếc xe máy cũ kỹ chỉ hừ hự rú lên rồi lại im bặt. Tôi mở nắp bình xăng. Đúng là bình xăng còn đầy ắp. Tôi rút bu-ri ra lau kỹ rồi lắp vào. Đạp cần khới động. Chiếc xe vẫn không chịu nổ máy. Tôi lại xem xét chiếc xe rồi kêu lên:
- Bố khoá đường dẫn xăng lại thế này có mà đạp đến Tết nó chả nổ!
Tôi mở khoá xăng rồi nhún nhẹ cần khởi động mấy cái chiếc xe đã rú lên bành bạch. Lão Vụ nghiến răng ken két:
- Mả bố anh em nhà thằng Ngan, Ngỗng. Lúc nãy hai anh em nó xúm xít vào khen lấy, khen để chiếc xe này còn mới, máy còn ngon rồi lén khoá lại đấy. Chúng nó định chơi xỏ tao phải dắt bộ về nhà. Tý nữa mà gặp tao sẽ tẩn cho hai thằng trời đánh ấy một trận…
Lão Vụ lại càu nhàu nói rồi bảo tôi:
- Mới về thăm quê à! Lên đây tao đèo về luôn…
Thấy tôi ngần ngừ vì muốn kiếm mấy cái cây dại ven rừng. Lão giục:
- Vứt mẹ nó mấy thứ cây vớ vẩn này đi. Về nhà tao leo lên cây de già mà gỡ lấy mấy khóm phong lan. Có một khóm đang nở hoa đẹp lắm.
Nghe lão nói vậy tôi thích quá. Tôi vội leo lên ngồi sau lão. Lão loạng choạng phóng xe đi. Chợt tôi hốt hoảng:
- Không có mũ xe máy công an tóm được phạt chết.
- Công an nào thèm vào con đường rừng này mà sợ! Đứng trong đường rừng để họ ăn cháo à?
- Nhưng bố có biết đi xe máy không đấy, sao cứ loạng choạng thế?
- Hề… hề… biết hết! Cả làng này ai mà chẳng biết đi xe máy. Tháng nào làng ta chả có thằng chết, thằng vỡ đầu, thằng gãy chân, què tay vì ngã xe máy… Ngày mới tập đi xe máy mấy lần tao phải phóng vào cây rơm ở cổng mới dừng lại được đấy! Hôm qua, bà Mía còn lao tõm luôn cả xe lẫn người xuống ao, uống no nước suýt chết, phải nhờ người buộc dây thừng khiêng xe lên bờ đấy!
lienson | 18 November, 2011 09:00
Săn lùng lãnh đạo (II)
Tiểu phẩm của Trọng Bảo
Rồi thì quan đứng đầu bộ phận sơ tuyển cũng dâng lên nhà vua bản danh sách 101 ứng viên vào ngôi vương sau khi đã sàng lọc 1001 bộ hồ sơ dự thi. Nhà vua mừng lắm. Ngài nhìn danh sách thấy toàn là các quan giữ vị trí trọng yếu trong triều, có uy tín. Vị quan đứng đầu bộ phận sơ tuyển được ban thưởng rất hậu hỹ.
101 ứng cử viên vào ngôi hoàng đế được triệu vào cung để bộ phận trung tuyển bắt đầu làm việc. Trưởng quan trung tuyển vốn là một nhân tài của đất nước. Tuy vậy vị quan đứng đầu bộ phận trung tuyển vẫn rất cẩn trọng khi tổ chức kỳ “thi vua”. Ông bèn dâng tấu biểu xin nhà vua trực tiếp làm chủ khảo vòng thi thứ nhất để chọn lấy 11 người đưa vào vòng sau cho bộ phận cao tuyển bỏ phiếu bầu lấy 1 người làm vua.
Nhà vua vui vẻ nhận lời làm chủ khảo.
Vòng thi vấn đáp diễn ra ngay tại sân rồng. Các quan lần lượt trả lời các câu hỏi về chính sách xây dựng đất nước, an dân, mưu kế về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và thực hành việc giao đấu võ nghệ, thi thố bài binh bố trận.
Ba vị quan sáng giá nhất vào đợt thi đầu tiên. Nhà vua đặt câu hỏi về chiến lược, sách lược trị quốc an dân và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Các câu hỏi đều ngang với trình độ tiến sĩ nhưng không ai trả lời được. Nhà vua hạ cấp câu hỏi xuống trình độ thạc sĩ cũng không ai trả lời được. Hạ xuống trình độ đại học rồi cao đẳng, trung cấp cũng vậy. Nhà vua ngạc nhiên và nghĩ chắc là các quan “khiêm tốn”. Ngài liền hạ cấp các câu hỏi xuống bậc phổ thông, lớp 12, lớp 11, lớp 10, lớp 9, lớp 8 rồi lớp 7, lớp 6 cũng không ai có câu trả lời đúng. Khi hỏi về kiến thức lớp 3 mới có một quan cấp đầu tỉnh trả lời được. Nhà vua vô cùng cáu tiết. Ngài đập bàn thét:
- Lôi cổ quan sơ tuyển ra đây!
Lính cấm vệ lập tức lôi ngay vị quan đứng đầu bộ phận sơ tuyển ra bắt quỳ giữa sân rồng. Vị quan sơ tuyển run cầm cập không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Vua quát:
- Nhà ngươi thật đáng tội chết! Tại sao lại chọn toàn những kẻ bất tài thế này vào trung tuyển làm vua hả. Có phải nhà ngươi ăn đút lót nên sơ tuyển không kỹ phải không? Thật đáng tội xử trảm…
Quan sơ tuyển mặt cắt không còn giọt máu lập cập thưa:
- Muôn tâu bệ hạ! Bộ phận của thần chỉ có nhiệm vụ kiểm tra nhân thân, rà soát bằng cấp thôi ạ!
- Vậy nhà ngươi kiểm tra thế nào mà toàn là những người có bằng cấp cao nhưng lại mù tịt tri thức thế hả! Hay là bằng giả?
- Thưa không phải ạ! Đây toàn là bằng thật thôi! Các loại bằng giả, bằng không đúng trình độ thần đều đã loại hết cả rồi ạ… Xin bệ hạ suy xét.
Nhà vua lại quát:
- Gọi ngay giám đốc “Học viện Trị quốc an dân” ra đây!
lienson | 16 November, 2011 15:46
Săn lùng lãnh đạo (I)
Tiểu phẩm của Trọng Bảo
Chuyện này tôi cũng dịch được của nước ngoài.
Tại một vương quốc nọ, nhà vua đã về già mà không có người kế vị. Hoàng hậu và các hoàng phi sinh ra toàn là con gái. Mà nhà vua thì lại không muốn thiết lập ra một chế độ nữ vương. Nam vương thì chỉ cần đội cái vương miện lên đầu, tay cầm quyền trượng là có thể thiết triều điều hành việc nước. Còn nữ vương thì khi thống lĩnh đại quân đi chinh phạt thiên hạ, đoàn quân có mười xe thì mất ba xe chở nữ trang, son phấn, chỉ có bảy xe kéo pháo và mang đạn dược nên rất khó thực thi nhiệm vụ. Khi giao đấu với quân địch mới chỉ được ba hiệp đã lui quân để chỉnh đốn lại… trang điểm.
Có lẽ vì thế mà nhà vua quyết định phải tìm một nam nhi kế vị mình lãnh đạo đất nước. Cuộc tìm kiếm lãnh đạo diễn ra ráo riết vì nhà vua ngày càng già yếu mãi đi. Cuộc thi tài để tuyển chọn lãnh đạo được cáo thị khắp vương quốc. Từng đoàn trạng nguyên, giáo sư, tiến sĩ, bác học nườm nượp kéo về kinh đô để tham gia thi tuyển. Ai cũng háo hức. Ai cũng mong mình sẽ lên làm vua để một đời vinh hoa, phú quý, có cả hàng trăm mỹ nữ, cung tần. Cuộc đua tranh ngày càng quyết liệt. Một ban chỉ đạo được thành lập do nhà vua làm trưởng ban. Dưới ban chỉ đạo có ba bộ phận sơ tuyển, chung tuyển và cuối cùng là bộ phận cao tuyển. Bộ phận sơ tuyển sẽ soát xét nhân thân, lý lịch bảy đời, bằng cấp của người dự thi. Bộ phận chung tuyển tổ chức thi thố để chọn tài năng và cuối cùng là bộ phận cao tuyển sẽ thảo luận rồi bỏ phiếu chọn ra ba người đạt các danh hiệu: cao tài, trung tài và sơ tài để trình ban chỉ đạo bỏ phiếu chọn ra vua.
Quá trình làm việc của bộ phận sơ tuyển rất vất vả, mãi không xong danh sách chốt để đưa lên bộ phận trung tuyển. Nhà vua cáu lắm. Ngài cho triệu quan phụ trách sơ tuyển lên nhắc nhở:
- Các khanh làm ăn lề mề quá! Qua hơn nửa năm rồi mà không xong khâu sơ tuyển. Các khanh định để khi ta băng hà đất nước không có vua à?
- Muôn tâu bệ hạ… - Quan phụ trách bộ phận sơ tuyển báo cáo: - Bộ phận của thần phải thẩm định quá nhiều hồ sơ xin thi tuyển nên rất khó khăn, vất vả, phức tạp ạ!
- Khó khăn thế nào, phức tạp thế nào?
- Thưa bệ hạ! Số người xin sơ tuyển quá đông. Phần lớn là các quan lại trong triều. Mà ai cũng đáng làm lãnh đạo cả. Họ trình lên rất nhiều loại bằng cấp nên phải xem xét rất cẩn thận, cụ thể, tỷ mỷ ạ!
- Bằng cấp đã có nơi cấp, quyết định, dấu má, điểm chỉ rõ ràng việc gì mà phải mất thời gian thẩm định?
- Không hẳn thế ạ! Bằng cấp của họ đủ chủng loại, trong nước, ngoài nước đều có. Có loại chữ La-tinh, chữ Ả-rập, chữ Hán, chữ Lào, chữ Mai-a và còn cả loại chữ, ký tự của người... tiền sử cách đây hàng triệu năm nữa ạ!
- Thế họ không có bản dịch kèm theo à?
- Có ạ! Nhưng bản dịch này không thể tin được đâu ạ!
- Vì sao?
- Vì theo bản dịch họ cung cấp thì toàn là những trình độ tiến sĩ, trên tiến sĩ hoặc siêu tiến sĩ thôi ạ!
- Thế cơ à?
- Vâng... hạ thần đã cho dịch lại toàn bộ các bằng cấp, thấy có rất nhiều bằng cấp của nước ngoài cấp cho quan lại của ta có trình độ rất thấp. Nó chỉ tương đương với bằng phổ thông trung học ở trong nước thôi ạ!
lienson | 11 November, 2011 20:04
Ngõ nhỏ
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Tung nắm thóc cho đàn gà xong, bà Cần chống gậy đi ra đầu ngõ. Cái ngõ nhỏ sâu hun hút. Hai bức tường đá ong cao quá đầu người. Mưa gió, thời gian làm những viên đá ong lát đường, xây tường mòn lõm đi. Cái ngõ nhỏ này thuở bé bà vẫn nhảy tưng tưng mỗi khi đi về. Thế mà bây giờ, bà phải lần từng bước, tiếng gậy khua lọc cọc, lọc cọc. Qua cổng nhà bà Miên, bà Cần nhắc cây gậy lên tránh tiếng. Bàn chân bà bấm xuống mặt đường, hai tay hơi giang ra, bước đi như người làm xiếc trên giây để giữ thăng bằng.
Bà Cần không muốn người bạn già biết mình đang đi ra đầu ngõ. Bà Miên đang ốm. Hôm qua bà Cần đã nấu cho người bạn già một nồi lá xông nên bà ấy đã đỡ. Hôm nay, bà ra đầu ngõ mua nửa cân đường. Người già khi ốm thường nhạt miệng, có một thìa đường cho vào bát cháo dễ ăn hơn là với muối.
Thấy bà hỏi mua đường, anh phó chủ tịch xã đang ngồi uống bia hơi trong quán ngạc nhiên:
- Nhà hết đường rồi hay sao mà cụ phải đi mua thế này?
- Còn khối ra đấy ăn làm sao mà hết được!
- Thế sao...?
Bà Cần vừa gỡ cái kim băng mở túi lấy tiền vừa trả lời anh phó chủ tịch:
- Bà Miên bà ấy ốm! Mua nửa cân đường cho bà ấy ăn cháo. Đường nhà còn cả mấy chum nhưng có mang sang lại mang về thôi, bà ấy không chịu nhận.
Anh phó chủ tịch xã vẫn không hiểu. Bà Cần cũng không nói thêm nữa. Bà mua thêm hai cái bánh giò rồi lọc cọc chống gậy quay vào trong ngõ.
Bà Cần rất hiểu tính tình của người bạn già. Bởi họ đã sinh ra và lớn lên cùng nhau ở cái ngõ nhỏ này. Thuở ấy, hai người như hình với bóng. Đi đâu, làm gì cũng có nhau, chăn trâu, nhảy dây, bắt cào cào, châu chấu, củ khoai, củ sắn chia đôi, quả khế, quả me mỗi người một nửa, đi cấy, đi cắt cỏ, lấy củi cứ ríu ran ngõ nhỏ. Mặt mũi lấm lem bùn đất, áo vá, nón mê thế mà thấp thoáng cả hai đã thành thiếu nữ.
Có anh giáo học trên tỉnh về quê si tình đã viết cả một bài thơ dài về hai người mà bà còn nhớ được một câu: “Ai về làng Vũ, thôn Đoài/ Trông trong ngõ nhỏ có hai nàng Kiều...”. Hai người ngày ấy đẹp nhất làng mà cũng chăm chỉ, nết na nhất làng. Hai dáng kiều đã làm cho anh giáo si tình ngày ngày dạy chữ, đêm đêm làm thơ, ngơ ngơ ngẩn ngẩn đi trên con đường làng đầy rơm rạ.
Nhưng, cuộc đời người con gái ở quê ngắn lắm. Bà Miên lấy chồng khi chưa đầy mười tám. Anh chồng trông lù đù thế mà khi cách mạng tháng Tám nổ ra dám ôm mã tấu xông vào nhà công sứ trên tỉnh treo cờ đỏ sao vàng, rồi tham gia du kích suốt chín năm. Còn bà Cần, ai ngờ lại bén duyên anh giáo si tình. Đám cưới của bà vui nhất làng. Anh giáo tứ cố vô thân. Ông chủ tịch uỷ ban hành chính kháng chiến đứng ra đại diện nhà trai. Nước nhà độc lập, làng xóm suốt ngày mít tinh, hội họp, có thêm một đám cưới càng thêm vui, tiếng cười nói, hát hò rộn trong ngõ nhỏ.
lienson | 02 November, 2011 08:39
Hương thị
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Từ sau buổi trưa hôm ấy ở Thái Nguyên vào đến chiến trường tôi và thằng Thân không gặp lại nhau lần nào nữa. Chúng tôi cũng chẳng có thư từ gì cho nhau được vì đơn vị luôn luôn cơ động. Đơn vị của thằng Thân tham gia nhiều chiến dịch từ Đà Nẵng đến Sài Gòn. Tôi thì ở một đơn vị dự bị, luôn luôn di chuyển phía sau đội hình tác chiến, chuyên giải quyết hậu quả các trận đánh. Vì thế có nhiều người vẫn nói đùa bảo chúng tôi là loại lính chuyên “nhặt ống bơ”, thu chiến lợi phẩm.
Tôi gặp được thằng Thân trong một tình huống không ngờ tới.
Đó là mấy ngày sau ngày giải phóng Sài Gòn. Hôm ấy, tiểu đội của chúng tôi nhận nhiệm vụ đến trạm phẫu tiền phương đưa đi mai táng một chiến sĩ vừa hy sinh do vết thương quá nặng sau trận đánh ở Xuân Lộc. Chúng tôi đưa thi hài người chiến sĩ ấy vào khu vực nghĩa trang của mặt trận. Ở đây đã có nhiều chiến sĩ hy sinh trong trận đánh để công phá Xuân Lộc - “cánh cửa thép” bảo vệ Sài Gòn. Sau khi chôn cất người lính vừa hy sinh xong, chúng tôi chia nhau nắm hương đi cắm trên các nấm mộ những anh em chôn trước xung quanh ngôi mộ mới. Đến một nấm mộ còn tươi màu đất tôi chợt trố mắt khi nhìn thấy dòng chữ viết bằng sơn đen trên tấm bia tạm làm bằng gỗ: “Hà Văn Thân, sinh năm 1956, quê quán Lập Thạch, Vĩnh Phú, hy sinh ngày 29-4-1975”. Đúng là thằng Thân bạn của tôi rồi. Tôi thấy tim mình nhói lên, cổ đắng ngắt. Khổ thân mày quá Thân ơi, sao mày lại nằm ở cái nơi xa quê này. Tôi gần như khụy xuống. Tôi lập cập cắm mấy nén nhang lên nấm đất còn mới. Tôi cứ ngồi vốc từng nắm đất đắp thêm lên mộ thằng Thân cho đến khi mấy anh em giục mãi mới loạng choạng đứng dậy. Sau này trước khi trở về Bắc, tôi còn cố đến thăm thằng Thân thêm một lần nữa. Thằng Thân hy sinh chỉ trước ngày toàn thắng một ngày. Nó đã chiến đấu rất dũng cảm. Nó ngã xuống khi dùng thân mình che đạn cho một thương binh.
Sau này thằng Thân cũng được trở về quê hương vào một mùa thị chín sau hơn hai mươi năm ra đi. Nó nằm trong nghĩa trang liệt sĩ. Cạnh nghĩa trang liệt sĩ có một cây thị già. Cái cây có lẽ phải đến trăm tuổi, năm nào cũng sai hoa, lắm quả. Mùa thị chín hương thị bay thơm ngan ngát khắp cả khu nghĩa trang.
Một lần về quê, tôi gặp cái Thu, lớp trưởng 10B ngày nào. Thu đang học trường cao đẳng sư phạm tỉnh. Thủ kể lại chuyện sau khi tôi và Thân nhập ngũ, các bạn học sinh Hà Nội sơ tán lên cũng chuyển về thủ đô. Thằng Phú và Linh đều trúng tuyển đại học. Khi hai người cưới nhau, Linh có gửi một cái thiếp mời về nơi sơ tán cho lớp trưởng Thu nhờ báo tin cho các bạn. Nhưng Thu cũng không đi Hà Nội dự đám cưới của họ được.
Khi chiến tình hình biên giới phía Bắc căng thẳng, đơn vị tôi hành quân lên tuyến trước. Khi chiến tranh nổ ra tôi có gặp lại thầy giáo chủ nhiệm lớp 10B tại mặt trận. Thầy đã chiến đấu và hy sinh rất dũng cảm. Tôi đã viết một truyện ngắn về thầy. Đó là cái truyện ngắn “Thầy ơi” đăng trên báo Văn nghệ Trẻ. Những lần sau về quê, bạn học cũ chẳng mấy khi gặp lại. Mỗi người giờ đã ở một phương trời, có rất ít thông tin về nhau. Riêng các học sinh Hà Nội sơ tán lên quê tôi thời chiến tranh chống Mỹ thì chả gặp lại ai cho đến khi gặp Linh ngoài chợ rau ngoại thành.
lienson | 26 October, 2011 10:35
Hương thị
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Tôi được biên chế về trung đoàn 246B. Thời chống Mỹ, quân đội ta đều có các đơn vị A và đơn vị B. Đơn vị có chữ A thường là khung huấn luyện, đơn vị có chữ B là đơn vị chiến đấu. Mặt trận cũng đặt là theo chữ cái A, B, C sau này thêm mặt trận K nữa. A là mặt trận miền Bắc. Miền Bắc cũng phải đánh nhau với máy bay của bọn Mỹ. Mặt trận B là chiến trường miền Nam, C là chiến trường Lào, K là Campuchia. Ngày ấy cứ nói đi B tức là sẽ vào miền Nam chiến đấu. Ở chiến trường A (miền Bắc) còn có hy vọng sống, còn đi B thì phần sống trở về rất thấp. Làng tôi ngày ấy mười người đi B thì chỉ có ba, bốn người trở về. Cũng vì thế mới có chuyện nhiều người mang danh hiệu “bê quay”. Đó là những người không chịu nổi bom đạn, hy sinh bỏ mặt trận hoặc đào ngũ khi được biên chế vào đơn vị B, trên đường đi chiến trường thì trốn quay trở về hậu phương.
Đơn vị tôi khẩn trương huấn luyện để chi viện cho miền Nam. Hồi ấy chỉ là bọn “lính quèn” nên tôi không biết chuyện có kế hoạch chuẩn bị tổng tiến công giải phóng miền Nam năm 1975, chỉ biết sẽ ra đi không biết ngày nào trở về. Chúng tôi được cấp phát các loại vũ khí, trang bị, quân trang để sẵn sàng lên đường. Khẩu súng AK nhãn hiệu “made in CCCP”, bộ quần áo, tăng võng, cái bình tông “made in China” va cái ca tráng men sắt tây có in dòng chữ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Một buổi trưa ăn cơm xong tôi vừa chợp mắt thì tiểu đội trưởng kéo chân gọi nhỏ:
- Ra ngay chiêu đãi sở có khách đến thăm!
- Khách nào thế hả anh?
Tôi hỏi. Tiểu đội trưởng lắc đầu:
- Chả biết! Cũng là lính tráng. Nghe nói cùng quê với ông. Nhớ là chuyện trò tâm sự gì thì đến trước giờ báo thức buổi chiều phải về để đi tập chiến thuật nhé!
- Vâng… nhưng cùng là lính tráng sao trực ban không cho vào luôn trong doanh trại hả anh?
- Quy định là như thế! Vào đây để các ông trò chuyện ầm ầm, đơn vị mất ngủ, chiều đi tập thế nào được hả!
Tôi vội mặc quần áo ra nhà chiêu đãi sở. Một người mặc quân phục vải Tô Châu mới tinh đang ngồi chờ sẵn. Tôi vô cùng ngạc nhiên nhận ra đó là thằng Thân. Thằng Thân rất vui mừng vì gặp được tôi. Hai thằng ngồi nói chuyện với nhau suốt buổi trưa.
Qua lời kể của thằng Thân tôi lờ mờ hiểu được mọi chuyện.
Ngay sau khi tôi lên đường nhập ngũ thì chi đoàn lớp 10B cũng tổ chức kết nạp đoàn cho thằng Thân. Trong một buổi sinh hoạt lớp Thằng Phú đã nhận việc nó đến mượn cuốn sách hoá học của thằng Thân đã sơ ý để quên cái bút Kim tinh và tờ năm đồng vào hộc bàn chỗ ngồi của thằng Thân. Khi mọi việc vỡ lở nó đã định nhận lỗi của mình ngay nhưng lại sợ khuyết điểm nên không dám nói. Bây giờ nó thấy hối hận nên xin chịu kỷ luật trước lớp và chi đoàn.
lienson | 19 October, 2011 16:27
Hương thị
Truyện ngắn của Trọng Bảo
Truyện ngắn Hương thị tôi viết từ khi đang còn là học sinh lớp 10. Tính đến nay vừa đúng bốn mươi năm. Bản thảo chả còn giữ được. Truyện ngắn này chỉ được đăng một lần duy nhất trên tờ báo tường lớp 10B của tôi ngày ấy. Tôi chỉ nhớ đại ý của truyện. Ấy vậy mà lại có một người nói vẫn còn nhớ được gần như nguyên văn truyện ngắn. Thật thú vị, đó lại chính là nhân vật nữ mà tôi viết trong truyện ngắn. Và cũng đúng bốn mươi năm tôi cũng mới gặp lại nguyên mẫu một nhân vật của mình.
Hôm đó là ngày nghỉ các con không về vì đều bận việc của cơ quan, tôi tự lo việc ăn uống. Tôi ra chợ mua vài lạng thịt, mớ rau muống. Mấy lạng thịt lợn và mớ rau đủ cho tôi chén trong hai ngày nghỉ. Thịt rang mặn, mỗi bữa luộc vài ngọn rau lấy nước luộc dầm sấu chan cơm là ổn. Mấy ngày nghỉ tôi sẽ cắm mặt vào màn hình máy vi tính quyết tâm sửa chữa cho bằng xong tập tiểu thuyết “Chuyện đời hắn” kịp nộp nhà xuất bản như đã hứa với họ.
Vừa đến chợ qua dãy hàng thịt nhìn thấy tôi, chị bán hàng đã đon đả:
- Anh vẫn đúng hai mươi nghìn chứ ạ?
- Vâng… - Tôi đáp. Chị bán thịt đã quen với định mức thịt mà tôi vẫn mua cho bốn bữa trong hai ngày nghỉ. Cầm mẩu thịt lợn bé tý, tôi sang dãy hàng rong mua rau. Những người bán rau này thường ở ngoại thành. Họ trồng rau rồi đem vào nội thành bán. Tôi hỏi mua một mớ rau muống. Người phụ nữ bán hàng nói: “Xin anh năm nghìn!”, rồi cho mớ rau vào cái túi ni-lông. Khi ngẩng lên đưa rau cho tôi người đàn bà bỗng đứng bật dậy ngập ngừng hỏi:
- Có phải… có phải anh là… là…
Tôi cũng ngỡ ngàng nhận ra một nét mặt quen quen. Tôi cố nhớ xem đã gặp ở đâu thì người đàn bà bán rau đã nói:
- Em là Linh… hồi năm bảy hai sơ tán về quê anh…
Tôi giật mình. Trong trí nhớ của tôi vùn vụt trở lại những hình ảnh của bốn mươi năm trước. Cô Linh xinh đẹp hoa khôi của lớp 10B chúng tôi ngày ấy đây ư! Nhìn người đàn bà lam lũ bên gánh rau muống tôi như chưa tin ở mặt mình. Nhưng rồi tôi bừng tỉnh. Đã bốn mươi năm rồi cơ mà. Linh như hiểu cái nhìn của tôi. Hai bàn tay đen đúa của cô vặn vặn vào nhau rồi nói:
- Hôm nào anh rỗi đến nhà em chơi. Nhà em ở số… Cầu Giấy. Em và anh Phú vẫn nhắc đến anh và những ngày sơ tán lên Lập Thạch đấy…
- Thế Linh và Phú…
- Vâng anh Phú là chồng em! Anh ấy ốm đau luôn, bây giờ yếu lắm rồi…
Tôi hứa sẽ đến thăm nhà Linh. Khi tôi cầm mớ rau muống định quay đi thì Linh lại bảo:
- Em vẫn nhớ như in câu chuyện Hương thị của anh viết ngày ấy đấy.
- Thế à! - Tôi ngạc nhiên nhưng chợt nghĩ: “Linh là nhân vật chính của truyện ngắn nên cô ấy nhớ là phải thôi!”. Truyện ngắn ấy khi đăng trên tờ báo tường ai chả biết là tôi viết về Linh và những người bạn trong lớp mặc dù tên các nhân vật trong truyện tôi đã viết khác đi. Đó chính là truyện ngắn đầu tay của tôi.
Khi về đến nhà tôi tạm dẹp tập bản thảo cuốn tiểu thuyết dày cộp đầy những gạch xoá, sửa chữa chi chít sang một bên để cố nhớ lại những gì đã viết trong truyện ngắn Hương thị của bốn mươi năm trước.
*
Bước vào năm học cuối cấp 3, lớp 10B có thêm mấy học sinh mới. Đó là đám học sinh Hà Nội sơ tán về vùng quê trung du này. Trong số học sinh mới tôi chú ý đến một cô bé rất xinh xắn có mái tóc cắt ngắn ngang vai. Tên cô bé là Linh. Đó đúng là một người con gái đẹp - Tôi nghĩ. Lũ học sinh nông thôn, nhất là lũ con gái thấy ghen tỵ với đám học sinh mới đến. Bọn chúng sao mà thơm tho sạch sẽ, tươi tắn thế. Người thủ đô có khác. Ngược lại, cánh học sinh nông thôn chúng tôi có đứa suốt ngày lội ruộng cấy lúa, chăn trâu trên đồi. Buổi sáng đi học thì buổi chiều gánh phân ra đồng. Quần áo, sách vở thì luôn lấm lem bùn đất. Đứa nào có cái xe đạp cũ kỹ để đi học là may mắn lắm rồi.
Chúng tôi nhìn đám học sinh Hà Nội với con mắt luôn có một khoảng cách. Vậy mà chỉ sau một thời gian Linh lại kết thân với tôi và thằng Thân. Tôi và thằng Thân cùng tuổi, nhà ở gần nhau, cùng học với nhau từ lớp vỡ lòng cho đến cấp 3. Hai thằng chúng tôi như hình với bóng. Dù hai đứa khác nhau về tính cách lẫn hình dáng. Tôi vốn tính hấp tấp, nóng nảy, thấy việc gì chướng tai, gai mắt là nói luôn. Thằng Thân thì tính tình trầm tĩnh, ít nói. Trông nó lúc nào cũng lù đù như chuột chù phải khói. Có người còn bảo nó đần. Ấy vậy mà khi Linh làm bạn với hai thằng chúng tôi lại rất thích trò chuyện trao đổi với nó. Hai chúng tôi đều học giỏi. Tôi là học sinh giỏi văn, thằng Thân giỏi toán, còn Linh thì giỏi cả văn lẫn toán. Chúng tôi hình thành một bộ ba gắn bó rất khăng khít. Giữa tôi và Linh chỉ là tình bạn. Con giữa thằng Thân và Linh thì đã vượt lên trên tình bạn một chút. Ngày ấy, học sinh cấp hai đã đi bộ đội. Cánh học sinh cấp ba chúng tôi lớn lộc ngộc. Năm nào chúng tôi cũng tiễn các bạn lên đường nhập ngũ ra trận.
lienson | 14 October, 2011 22:15
Đạo diễn giỏi nhất
Truyện cười của Trọng Bảo
Một chú bé khoe với bạn:
- Bố tớ là đạo diễn giỏi! Bố tớ đang là đạo diễn một vở kịch lớn, rất hoành tráng những mấy chục diễn viên. Hôm nào biểu diễn người xem cũng kín rạp, vỗ tay ầm ĩ, thu hàng chục triệu đồng tiền vé!
Cậu bạn bĩu môi:
- Thế thì ăn thua gì! Bố tớ mới thực là “đạo diễn” cực giỏi. Mẹ tớ bảo, bố chỉ “đạo diễn” một một vụ là đã thu hàng trăm triệu đồng đấy...
- Thế bố cậu làm ở đoàn nghệ thuật nào?
- Bố tớ chẳng cần nghệ thuật, chẳng cần kịch bản, kịch biếc gì, cũng chẳng cần khán giả vẫn thu được tiền hàng trăm triệu thế mới ghê chứ lị…
- Thế thì bố cậu đúng là một đạo diễn giỏi thật đấy!
- Còn phải nói! Bố tớ đang “đạo diễn” mấy dự án “xoá đói, giảm nghèo”, “hỗ trợ đồng bào thiểu số” cho vùng cao, miền núi đấy! Mẹ tớ bảo sau mấy “vở” này nhà tớ sẽ mua ô-tô riêng đấy!
Ngày 14/10/2011
lienson | 12 October, 2011 16:13
Theo Báo Dân Việt online: Đoàn Hoa hậu, người đẹp và nhà tổ chức gồm 30 người đến làm từ thiện tại Trung tâm bảo trợ trẻ em Thủy Xuân (Huế), tặng các cháu được... 1,5 triệu đồng lại ăn cơm với các cháu nên nhiều cháu hết cơm phải ăn mỳ tôm cho đỡ đói (?). Đất nước mình Đất nước mình Có những người lính gian lao nơi hải đảo Anh công nhân san núi mở đường Người nông dân trên cánh đồng giông bão Những em thơ bơi qua sông tới trường… Đất nước mình Cũng có những đại gia Ăn bát phở một triệu đồng mỗi sáng Những chiếc xe con bóng loáng Đậu bên những sân gôn mênh mông... Đất nước mình Đoàn hoa hậu đi làm từ thiện Rầm rộ khắp ngõ xóm làng quê Chụp ảnh vui như hội rồi về Để các em trại mồ côi chịu đói... Đất nước mình Có những nhà sư bên đài sen cặm cụi Nuôi các cháu bị bỏ rơi thành người Mái chùa cong ấm những cuộc đời Phật ở trong lòng ta như thế. Đất nước mình nhỏ bé Bao chuyện buồn, chuyện vui... Ngày 12/10/2011 TB
lienson | 08 October, 2011 10:48
Nguy cơ cho các nhà khoa học
Khi các nhà khoa học thế giới với các phương tiện hiện đại đang cố gắng tìm các loại thuốc để kéo dài tuổi thọ, cải lão hoàn đồng trẻ mãi không già. Trong khi các thí nghiệm của họ chưa thành công thì ở Việt Nam các nhà hoạt động chính trị đã làm được việc ấy. Công trình này làm cho các nhà khoa học thế giới lo lắng vì họ sẽ chẳng còn gì để nghiên cứu nữa. Thật rất đáng để đề nghị Viện Hàn lâm Thụy Điển tặng giải Nô-bel khoa học. Đó là trường hợp của ông Lê Xuân Đường như báo Lao động sáng nay đã đưa tin:
“Ông Lê Xuân Đường - sinh ngày 20-11-1952 tại xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, hiện là Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Quảng Trị - vừa được UBND xã Gio Mỹ cấp giấy khai sinh có ngày - tháng - năm sinh là 20-11-1956. Theo hồ sơ quản lý cán bộ, ông Đường sẽ nghỉ hưu vào năm tới (2012), nhưng với giấy khai sinh mới này, ông Đường đã được “trẻ” lại 4 tuổi và sinh sau em gái ruột của mình đúng 1 năm. Ông này cũng được công an tỉnh Quảng Trị cấp lại giấy chứng minh nhân dân sinh năm 1956...”.
Vậy có thơ rằng:
Việt Nam ta giỏi hơn thế giới
Tìm ra loại thuốc trẻ không già
Các nhà khoa học càng kinh hãi
Đem giải Nô-bel tặng nước ta.
Ngày 8/10/2011
TB
lienson | 03 October, 2011 08:19
Sách của hai tác giả nữ
Tôi vừa nhận được hai cuốn sách của hai tác giả nữ gửi tặng. Một cuốn văn xuôi và một tập thơ: Tập tản văn “Trên căn gác áp mái” (NXB Phụ nữ) của nhà văn Đỗ Bích Thuý và tập thơ “Khi đàn ong bay đi” (NXB Hội Nhà văn) của nhà thơ Trần Kim Anh.
Tập tản văn “Trên căn gác áp mái” gồm 31 bài viết, là những kỷ niệm, những suy ngẫm của nhà văn Đỗ Bích Thuý về miền quê ngoại Hà Giang xa xôi, một vùng núi đá cằn khô với những con người thật thà chất phác cả đời sống cùng đá núi, gian nan nhưng bền bỉ, bất khuất vươn lên, là những kỷ niệm về người thân, bè bạn, về cuộc sống vạn vật luôn biến đổi xung quanh. Từ những điều tưởng như bình thường, hiển nhiên mà nhà văn đã rút ra bao triết lý của cuộc sống, những nghĩ suy trăn trở của đời người.
Với 45 bài thơ làm nên tập thơ “Khi đàn ong bay đi” xinh xắn của Trần Kim Anh. Nhà thơ nữ với những tình cảm hồn hậu trong từng vần thơ viết về quê hương, người thân của mình. Có những vần thơ đầy sự nghĩ suy về đường đời, có những bồi hồi về thiên nhiên trong sáng. “Mở ngày mắt lá bừng xanh/Một trời tay lá ôm quanh lối đời/Ừ thôi ngụp lặn thế thôi/Chút ngày gió mỏng nói lời rừng xa” (bài thơ Mắt lá)…
Xin trân trọng giới thiệu sách của hai tác giả nữ mà tôi rất quý trọng.
Ngày 3/10/2011
Trọng Bảo
lienson | 01 October, 2011 17:21
Khắc đi, khắc đến
Đóng quân ở miền núi, ngày nghỉ hai chiến sĩ trẻ từ miền xuôi lên rủ nhau vào bản chơi. Dọc đường gặp một cụ già người dân tộc họ hỏi thăm:
- Đường đến bản Lũng Vài còn mấy cây số ạ?
- Ồ! Chỉ khoảng… một cây số thôi! Không xa đâu, chỉ một cái khăn vắt vai thôi…
Hai chiến sĩ phấn khởi cảm ơn cụ già rồi đi tiếp. Nhưng họ đi mãi, mỏi cứng cả chân mới đến được bản Lũng Vài. Cô bạn gái người dân tộc nghe hai chiến sĩ trẻ phàn nàn “một cây số” gì mà xa thế thì cười ngặt nghẽo rồi bảo:
- Giữa rừng ai đo đạc mà biết mấy cây số. Cây số của bà con dân tộc là “một cái khăn vắt vai” thôi! Khắc đi, khắc đến mà…
- Thế là thế nào?
- Thì vắt cái khăn mặt lên vai lúc nào thấy mỏi đổi sang vai kia thì là “một cái khăn vắt vai”…
- Ôi trời… cái khăn mặt vắt vai thì bao giờ mới mỏi được chứ!
Không sợ hy sinh
Tiếp tục nội dung tập môn quân y, chiến sĩ Hạ đề đạt ý kiến:
- Báo cáo đại đội trưởng, tôi xin hy sinh chứ không làm thương binh nữa đâu ạ!
Đại đội trưởng nói:
- Theo tình huống hôm nay đồng chí sẽ bị thương để bộ phận quân y băng bó và khênh về tuyến sau điều trị.
- Tôi không sợ chết, tôi xin hy sinh thôi, chứ bị thương tôi sợ lắm rồi!
- Tại sao thế? Đồng chí không chấp hành lệnh của chỉ huy à?
Đến nước này thì chiến sĩ Hạ đành thú thật:
- Hy sinh được nằm tại chỗ chờ “chôn cất” còn bị thương thì phải nằm trên cáng để khênh về tuyến sau. Vì là tập nên chạy theo thành tích thời gian, bộ phận vận chuyển thương binh chạy như bay bất kể võng cáng thương binh va vào gốc cây, mô đá. Tôi chỉ sợ bị thương giả thành tai nạn thật thôi ạ!
Trọng Bảo
lienson | 26 September, 2011 15:48
lienson | 20 September, 2011 22:18
Công lao của bị cáo
Tiểu phẩm của Trọng Bảo
Một vụ án buôn lậu, đưa hối lộ lớn bị phát hiện được đưa ra toà. Sau mấy ngày xét xử, đã đến lúc kết thúc. Ông chánh án hùng hồn tuyên bố:
- Xét mọi khía cạnh của vụ án này, toà thấy không có tình tiết nào giảm nhẹ để giảm tội cho bị cáo cả!
- Thưa quý tòa! - Bị cáo vội vàng lên tiếng: - Có... có nhiều tình tiết giảm nhẹ rất đáng xem xét đấy ạ!
Quan toà sửng sốt ngạc nhiên nhìn bị cáo. Trùm buôn lậu, đưa hối lộ vội vã trình bày:
- Hiện nay, tôi thấy nhà nước ta đang tập trung rất nhiều công sức, huy động cả bộ máy để đấu tranh phòng, chống tham nhũng, nhưng hiệu quả còn rất hạn chế, không tìm ra được vụ nào lớn. Thế mà, chỉ nhờ có một vụ buôn lậu và đưa hối lộ của tôi mà đã phát hiện được khá nhiều cán bộ tham nhũng, nhận hối lộ... Xét về khía cạnh tích cực đó chính là... "công lao" của bị cáo trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, là một tình tiết giảm nhẹ rất quan trọng đấy ạ! Kính mong quan toà xem xét giảm án và… khen thưởng kịp thời cho bị cáo ạ…!
Ngày 20/9/2011
lienson | 11 September, 2011 19:13

Truyện thiếu nhi của Trọng Bảo
Thằng Tùng ôm khư khư chồng báo trước ngực. Nó len lỏi đi dọc đường Hàng Mã rồi xuôi theo phố Lương Văn Can. Đèn điện sáng trưng. Một thế giới của tuổi thơ ở đây. Đủ các loại đồ chơi. Những chiếc đèn lồng, đèn ông sao treo kín lối đi, xếp đầy trong thùng giấy, tràn cả xuống lòng đường.
Dòng người, dòng xe đi mua sắm quà trung thu rất đông. Thằng Tùng thẫn thờ nhìn. Có cậu bé, cô bé cũng chỉ trạc tuổi nó ngồi trên những chiếc xe máy đắt tiền bắt bố mẹ đi hết cửa hàng này sang cửa hiệu nọ để chọn mua đồ chơi. Những thứ đồ chơi cao cấp giá hàng trăm, hàng triệu đồng mà chúng vẫn chê khiến bố mẹ chúng phải chạy xe lòng vòng mãi.
Nhìn những chiếc đèn ông sao bày la liệt bên đường, thằng Tùng chỉ ước ao có được một chiếc. Nó và em Bi sẽ chơi chung. Nhất định nó sẽ nhường cho cu Bi cầm lâu hơn...
Chợt nhớ tới chồng báo còn nặng trên tay, thằng Tùng vội cất tiếng rao. Giọng nó đã khản đặc:
- Ai... báo... đây...! Báo công an, báo pháp luật, báo an ninh thủ đô... một vụ... giết... người... hai vụ... cướp... hiếp... đây...
Không ai gọi mua báo. Thằng Tùng thấy lo lắng. Báo không bán hết phải trả lại đại lý thì sẽ bị khấu trừ vào số tiền những tờ đã bán được, lời lãi chả còn là bao. "Nhưng thôi... - Nó nghĩ - ... cũng vẫn đủ tiền ăn một ngày của hai anh em nó". Mẹ nó đang ốm mệt không gánh hàng rong vào phố được, chỉ loanh quanh ở cái chợ ngoài bãi sông quét dọn, rửa bát thuê. Chắc giờ này trong gian nhà nhỏ ở chân đê mẹ và cu Bi đang mong nó về. Nó lại định cất tiếng rao thì có người gọi:
- Ê... báo! Còn "Mua và bán" không?
Một bà chủ cửa hiệu bên đường vẫy nó. Thằng Tùng mừng quýnh:
- Dạ! Còn... còn ạ!
Thằng Tùng rút tờ "Mua và bán" đưa cho bà chủ cửa hiệu. Nhận tiền xong nó vừa định bước đi thì bà ta lại bảo:
- Khênh giúp cái thùng đèn ông sao kia vào trong nhà! Hết khách rồi...
- Vâng ạ!
Thằng Tùng đáp và đặt tập báo xuống bậc cửa. Vừa bám vào cái thùng các-tông định cùng bà chủ hiệu đẩy lên nhà thì nó vội kêu lên:
- Khoan đã bà ơi! Có một chiếc đèn ông sao bị rơi ra ngoài, kéo thùng qua thì hỏng mất!
- Rơi đâu mà rơi! Cái thằng oắt con lúc nãy bố mẹ mua cho rồi lại chê đập bẹp vứt đi đấy...
- Bà cho cháu nhé!
- Mày lấy thì lấy đi! Nó bị bẹp mất một cánh rồi!
Thằng Tùng sung sướng chộp lấy chiếc đèn ông sao đang nằm lăn lóc dưới đất. Nó cẩn thận đặt chiếc đèn lên trên chồng báo rồi giúp bà chủ hiệu đưa thùng hàng vào nhà.
Cầm chiếc đèn ông sao bị bẹp một cánh trên tay thằng Tùng cứ ngắm nghía mãi. Nó tính sẽ lấy một chiếc que lùa vào bên trong chiếc đèn nắn cho cái cánh bị bẹp phồng lên như cũ. Thế là tết trung thu này hai anh em nó sẽ có một cái đèn ông sao rồi. Thằng Tùng thấy lòng mình lâng lâng. Cu Bi giờ này chắc cũng đã ngủ. Thằng Tùng chợt nảy ra một ý nghĩ. Nó sẽ giấu thật kỹ chiếc đèn ông sao, chờ đến đúng đêm trung thu mới lấy ra, chắc chắn cu Bi sẽ bị bất ngờ và thích thú lắm.
Thằng Tùng về đến nhà thì trăng đã lên cao. Ánh trăng mùa thu lấp loá trên sóng nước sông Hồng...
Hà Nội, Trung thu 2009
lienson | 09 September, 2011 16:19
Người kế cận
Truyện ngắn mi ni của Trọng Bảo
Cục trưởng Ngô sắp đến tuổi về hưu. Ông muốn tìm một người kế cận mình. Đầu tiên ông nhắm anh trưởng phòng văn hóa thể thao. Anh này vốn là người trưởng thành từ một đoàn văn công, có tài tổ chức. Ấy là ông mới có ý định thế thôi nhưng toàn cơ quan đã đồn ầm lên là cục trưởng “rất sáng suốt”, khi chọn người kế cận. Gặp ông họ cười cười chào rồi xì xào sau lưng. Cục trưởng Ngô bực lắm. Ông cho gọi anh trưởng ban hành chính kiêm phục trách công tác bảo vệ cơ quan lên hỏi:
- Cậu có biết họ đang xì xào bàn tán gì sau lưng tôi không?
- Họ bàn tán về… công tác cán bộ đấy ạ!
- Công tác cán bộ của cơ quan ta có vấn đề à?
Anh trưởng ban hành chính ngần ngừ không dám nói. Cục trưởng phải giục mãi anh trưởng ban mới rụt rè hỏi lại:
- Thủ trưởng có biết anh trưởng phòng văn hóa thể thao trước đây làm gì không ạ?
- Sao lại không biết! Nó là nhạc sĩ trong đoàn văn công của tỉnh ta…
- Anh ấy chỉ là nhạc công thôi ạ!
- Nhạc công hay nhạc sĩ đều thế cả thôi!
- Không hẳn thế ạ! Anh ấy là nhạc công, lại là người chuyên môn thổi… kèn trong dàn nhạc. Thỉnh thoảng về quê gặp có đám ma, anh ấy vẫn giúp đoàn nhạc hiếu thổi kèn… Nay thủ trưởng có ý định đề bạt nên anh em họ nói bóng, nói gió thủ trưởng lo xa, sau này khi đến lúc… “ò… í… e…” thì sẵn có người phục vụ chu đáo…
- Láo… láo quá! - Cục trưởng Ngô đỏ mặt tía tai đập bàn, tức giận quát rồi bảo anh trưởng ban hành chính: - Cậu lập tức đi điều tra ngay xem ai tung ra tin này để tôi trị cho nó một trận!
- Vâng ạ!
Anh trưởng ban hành chính kiêm phụ trách bảo vệ đáp quấy quá rồi lui ra. Cục trưởng Ngô vẫn chưa hết tức giận. Tuy thế, ông cũng thôi không có ý định đề bạt anh trưởng phòng văn hóa thể thao nữa. Ông quay sang nhắm chị trưởng phòng quản lý văn học. Chị này là nhà văn cấp tỉnh, có tài vận động thuyết phục quần chúng, Chị ta đã có mấy tác phẩm văn thơ được xuất bản. Cả cơ quan lại ầm ĩ lên. Tin đồn đến tai là ông đang chuẩn bị để viết di chúc và hồi ký. Ông lại chuyển sang dự kiến đề bạt anh trưởng phòng vật tư. Anh này rất có năng khiếu công tác quản lý, răng mọc quặp vào, đừng hòng ai tơ hào được của công. Nhưng anh ta vốn xuất thân gia đình chuyên làm nghề mộc, có cái cửa hàng bán quan tài to nhất thị trấn. Lập tức cơ quan xì xầm là sếp đang chuẩn bị sắm sửa… quan tài khiến cục trưởng Ngô lại càng cáu hơn.
lienson | 06 September, 2011 19:42
Về thủ đô thực tập
Tiểu phẩm của Trọng Bảo
Trên chuyến tàu xuôi có một tốp sinh viên miền núi đang tỏ ra rất háo hức. Một cụ già ngồi cùng toa tàu tò mò hỏi:
- Các cháu về Hà Nội tham quan à?
- Không chúng cháu đi thực tập cụ ạ.
- Thế các cháu học ở trường nào thế?
- Chúng cháu học ở trường lâm nghiệp vùng cao ạ!
Cụ già ngạc nhiên:
- Học lâm nghiệp thì các cháu về thủ đô để thực tập gì thế?
Một sinh viên đáp:
- Chúng cháu học đến các loại thú rừng nên phải kéo nhau về vườn bách thú tận thủ đô Hà Nội để được nhìn tận mắt xem con khỉ, con hổ, con trăn nó như thế nào cụ ạ. Trên vùng cao rừng bị phá hết rồi thì làm gì có các loại thú rừng nữa đâu?
lienson | 05 September, 2011 09:31
Ước gì là bộ trưởng!
Tạp văn của Trọng Bảo
Hôm nay là ngày khai trường. Sáng sớm, đường phố Hà Nội đã nhộn nhịp. Trẻ em vui ngày hội trường, bố mẹ cũng thêm bận rộn đưa con tới lớp. Cô bé cạnh nhà tôi năm nay vào lớp 1 được mẹ trang điểm, tết tóc, mặc đồng phục cứ rối rít lên từ sáng sớm. Cả khu tập thể tưng bừng theo ngày khai giảng của các em. Trên đường phố gặp những tà áo dài trắng tinh của các nữ sinh, những tà áo dài nhiều màu sắc rực rỡ của các cô giáo, tự dưng tôi thấy lòng mình cũng xôn xao bâng khuâng nhớ buổi cắp sách đến trường. Ngày ấy đã lâu lắm rồi. Ngày ấy bọn trẻ chúng tôi đầu đội mũ rơm, lưng đeo lá ngụy trang men theo hào giao thông đi khai giảng năm học mới. Buổi khai giảng cả trường đứng dưới tán cây rừng. Các khối lớp đứng nghiêm, các học sinh với những vòng lá ngụy trang xanh xanh trên lưng như những đoàn quân nhận lệnh chuẩn bị ra trận. Trước buổi lễ, thầy giáo làm công tác tổ chức phổ biến về các đường hướng sơ tán cho các lớp khi có máy bay địch ném bom. Tiếng trống khai giảng năm học mới lẫn trong tiếng bom máy bay giặc Mỹ đánh phá cầu Việt Trì.
Bây giờ mỗi năm học đến tưng bừng cờ hoa, náo nức khắp các miền quê. Đầu đường Hoàng Hoa Thám hoa tràn ra cả mặt đường. Những lẵng hoa tươi roi rói. Một quầy bán những là cờ Tổ quốc nho nhỏ bên đường cho các em cầm đi khai giảng. Ngày khai giảng tưng bừng nhưng cũng là bao nỗi trăn trở, lo toan của ngành giáo dục. Bao nhiêu lần cải cách, đổi mới nhưng chặng đường đi tới còn xa. Nghe nói lại có một dự án cải cách giáo dục số tiền sẽ chi còn gấp mấy lần Vinashin làm thất thoát khiến nhiều người lo lắng. Rồi những phong trào của ngành giáo dục cũng khiến người ta suy nghĩ. Mấy năm trước phong trào “không-không”, tức là 2 không của ông bộ trưởng ồn ào phát động hình như cũng không có hiệu quả là mấy. Vậy mà ông ấy vẫn thẳng tiến đi lên cao hơn, năm học này lại thấy ông gõ trống khai giảng ở mấy nơi.
lienson | 02 September, 2011 11:38
Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập
Thơ Trọng Bảo
Đã nhiều lần
Giọt nước mắt của Người rơi trên trang giấy
Khi Người viết "Bản án chế độ thực dân"
Giữa lúc châu Á, châu Phi ròng ròng máu chảy
Những thân người quằn quại lửa thiêu,
Bọn thực dân đế quốc hò reo
Trên những tấm lưng dân cày dọc ngang roi vọt.
Bác đã khóc, nhưng nước mắt Người cố nuốt
Để bàn tay không run
Để dồn tất cả căm hờn
Lên ngọn bút làm lưỡi lê chiến đấu.
Và lần này,
Giọt nước mắt Người lại rơi trên trang bản thảo.
Bàn tay Người bỗng run run...
(Sốt rừng vừa mới dứt cơn,
Hay Bác thức nhiều đêm không ngủ?)
Không! Chúng ta hiểu Người qua từng dòng chữ
Mà Người đang viết cho ta.
Hơn ba mươi năm lặn lội xông pha
Khắp địa cầu giông bão
Người đã viết hàng trăm trang báo,
Để có ngày được viết từng chữ tuyên ngôn,
Bản Tuyên ngôn Độc lập
Cho hôm nay và cho cả muôn đời nữa cháu con.
Nên tay Bác run run,
Giọt nước mắt Người rơi nhòe trên trang giấy.
Có phải đã bao nhiêu máu chảy,
Bao mồ hôi nước mắt của đồng bào,
Máu liệt sĩ chảy đẫm chốn tù lao,
Và năm tháng gian nan,
những người ở rừng sâu, hang đá.
Phút giây này hiện lên trong lòng Người tất cả,
Khi Người viết bản tuyên ngôn.
lienson | 30 August, 2011 09:14
Em trở về mùa thu
Em trở về mùa thu
Hoa cúc vàng lối cũ
Bước chân sao bỡ ngỡ
Trên con đường ngày xưa!
Trời đã thôi đổ mưa
Qua mùa ngâu tháng bảy
Gió heo may thổi đấy
Cho lòng người se se…
Kỷ niệm theo em về
Nên mùa thu bối rối
Để một thời nông nổi
Vẫn mãi còn vấn vương.
Màu áo trắng sân trường
Như em ngày xưa ấy
Mùa thu nào cũng vậy
Mãi xanh trong tim người…
HN, mùa thu 2010
TB
lienson | 28 August, 2011 11:34
Biết mua ở đâu?
Truyện vui của Trọng Bảo
Ngày chủ nhật, bà vợ sai ông chồng đi mua sữa về để làm sữa chua. Ông chồng cầm tiền đi một lúc lâu lại thấy lộn về nhà hỏi:
- Lúc nãy bà dặn tôi mua loại sữa gì nhỉ?
- Sữa cô gái Hà Lan!
- Nhưng biết tìm mua ở đâu chứ?
- Cứ vào trong siêu thị thì thiếu gì!
Ông chồng đành quay đi. Vừa đi ông vừa lẩm bẩm:
- Bà này chỉ được cái rất hay vẽ chuyện! Trong siêu thị thì thiếu gì con gái trẻ và đẹp như tiên, mua sữa của cô nào chả được, việc gì cứ phải mua sữa của cô gái Hà Lan cơ chứ! Chỉ được cái sính đồ ngoại…
lienson | 24 August, 2011 08:46
Bến sông xưa
Truyện ngắn của Trọng Bảo
1- Buổi sáng mùa đông ảm đạm. Kinh thành còn chìm lẫn trong sương sớm. Sau biến cố thất triều, phố phường chưa trở lại được cái nếp sinh hoạt cũ. Hàng quán mở cửa muộn hơn. Thi thoảng có một tiếng hú và tiếng vó ngựa rầm rập vút qua. Đó là đám lính chạy chiếu thư của tân triều truyền lệnh cho các bộ. Đã bao đời nay việc thay ngôi, đổi chủ thường diễn ra trong loạn ly, máu chảy. Cũng có lúc là sự chuyển giao ôn hoà. Nhưng dù là hình thức chuyển giao chế độ như thế nào thì đám vương gia cựu triều cũng lâm vào thế thất sủng, hoảng loạn, ly tán. Thiếu gì chuyện kẻ mới lên ngôi lo việc diệt trừ tận gốc rễ để phòng hậu họa. Vậy nên việc họ Hồ tiếm ngôi nhà Trần khiến đám quan lại, họ hàng thân, sơ triều cũ bàng hoàng, kinh hãi. Nhiều người phải bỏ kinh trôi dạt tứ phương.
Lại nói về một buổi sáng mùa đông ảm đạm. Dòng Nhị Hà sóng lặng. Thuyền bè hai bờ tả hữu còn gác mái chờ sáng. Trong cái khoảng tĩnh không ấy có một con thuyền nhỏ lặng lẽ rời bến Chương Dương. Con thuyền cố tránh va chạm với những thuyền bè khác gây nên tiếng động lớn.
Chiếc thuyền nhỏ ra đến giữa sông thì quay mũi ngược phía thượng nguồn. Nước sông chảy xuôi miết vào mũi thuyền tạo nên tiếng rào rào như xé. Chủ nhân con thuyền ấy là đôi vợ chồng trẻ. Họ rời kinh thành không hẳn vì sợ loạn ly, có lẽ là cám cảnh suy tàn của một vương triều đem lại bao nhiêu đau thương cho lương dân. Hoặc là họ chưa thích ứng được với tân triều. Tuy nghe chuyện Hồ Quý Ly tuy là một võ tướng nhưng có tư tưởng canh tân, mưu vãn hồi tình cảnh đất nước, song vốn dĩ là người cầu an nên Trần Án(1) vẫn quyết định cùng vợ rời bỏ kinh đô lên miền sơn cước tá túc. Họ đem theo một vài gia nhân, những tay chèo khoẻ mạnh. Mái chèo chém vào sóng nước tạo nên những âm thanh gọn gàng, chắc khoẻ. Con thuyền lướt đi trong màn sương sớm lạnh lẽo và ẩm ướt. Trần Án ngồi ở mũi thuyền, mắt đăm đăm nhìn về phía trước ước lượng từng đoạn đường sông. Chàng có vẻ suy tư, lo cho những điều bất định của ngày sau, không biết đoạn trường phía trước rồi sẽ ra sao. Nhưng rồi Trần Án lấy lại sự bình tâm, tin ở tuổi trẻ và lời dặn của cố nhân “hữu siêng, tất phú”.
Chợt có hơi ấm toả ra ở phía sau lưng, Trần Án quay lại. Đặng Thị Hoàn(2) - vợ Trần Án nhẹ nhàng khoác cho chồng tấm áo choàng. Nàng hỏi chồng:
- Chàng có điều gì phải lo nghĩ? Có phải chàng ngại nơi thâm sơn, cùng cốc khó bề kiếm kế sinh nhai?
- Ta không lo sự tồn tại bởi siêng năng thì chẳng sợ gì khó nghèo!
- Thế chàng còn lo nỗi gì nữa?
- Ta lo tại sự tồn sinh!
- Trần Án nói giọng buồn buồn. ánh mắt nhìn vô định. Đặng Thị Hoàn hiểu chồng. Hai người lấy nhau đã lâu, đều trẻ trung mà mãi chưa sinh được mụn con nào. Chồng nàng lo lên vùng rừng sâu, nước độc, lao động vất vả, thiếu người nối dõi tông đường, ít nhân lực để khai sơn, phá thạch. Đặng Thị Hoàn lây nỗi buồn của chồng. Nàng lặng lẽ ngồi xuống bên Trần Án. Một cơn gió lạnh lùa sương sớm tạt lên mặt người khiến đôi vợ chồng trẻ rùng mình. Họ càng hiểu sự tha hương và những nỗi chuân chuyên đang chờ ở phía trước.
lienson | 22 August, 2011 13:49
Lan rừng vườn nhà tôi (ảnh TB)
Đi chợ phong lan
Tạp văn của Trọng Bảo
Ngày nghỉ tôi thường đảo qua đường Hoàng Hoa Thám lấy một lần đi chợ phong lan. Dân chơi lan đất Hà thành thường bảo: “Mọi con đường đều dẫn đến đường Hoàng Hoa Thám”. Vì ở đây có chợ phong lan rừng lớn nhất ở Hà Nội. Ở Hà Đông cũng có một cái chợ bán hoa phong lan nhưng có lẽ không sôi động bằng ở đây. Chợ Hoàng Hoa Thám họp vào ngày bốn, ngày chín âm lịch, chợ Hà Đông họp sau đó một ngày. Tôi đi chợ thường là ngó nghiêng xem là chính, ít khi có tiền mua, nhất là mua các loài phong lan quý. Lạm phát cao nên giá cả tăng. Một ngọn lan đai châu đẹp năm ngoái độ dăm bảy chục nghìn là cùng thì năm nay người bán "quát" hai trăm nghìn đồng, mặt mũi tỉnh bơ, trả giá giảm một vài chục rồi giả bộ bỏ đi họ không thèm gọi lại.
Đi chợ phong lan mới biết dân “nghiện lan” luôn luôn có một sự đam mê rất lạ. Tôi thường gặp những người đi mua phong lan, phần lớn là người có tuổi. Họ rất cẩn thận khi lựa chọn từng ngọn lan rừng. Đó là những người rất hiểu biết về phong lan. Họ có kinh nghiệm. Chỉ nhìn qua là biết loại gì, hoa thế nào, nở vào thời gian nào và cách ghép giò, chăm sóc ra sao. Đừng bao giờ tin vào những cái ảnh hoa lan rất đẹp ép plastic đặt trên những mớ cây. Cũng đừng tin giọng nói dẻo quẹo của mấy cô hàng bán lan. Họ sẵn sàng cung cấp địa chỉ, số điện thoại và cam đoan: “Bác về trồng nếu không ra hoa thì trả lại cho em!”. Trồng phong lan rừng mà chờ xem nó có hoa hay không để bắt đền người bán thì thật là một điều viễn tưởng. Có cây phong lan tôi trồng đến cả chục năm nay, mỗi năm chỉ ra được một lá thì biết bao giờ mới có hoa? Nhưng có khi gặp may mua được một cành lan đai châu đem về cho vào chậu, bỏ vào ít than củi, không ngờ nó ra rễ rất nhanh, tết đến nó ra liền 4 cành hoa thật đẹp. Tết năm sau lại tiếp tục ra hoa. Nhưng cũng có khi mua về phun thuốc kích thích mãi mà không thấy nhú rễ. Lan rừng mà không ra rễ thì tức là nó đang “tự ăn thịt nó”. Cây lan sẽ sử dụng hết chất dinh dưỡng trong thân, trong lá rồi sẽ lụi chết nếu không chịu ra rễ. Bởi rễ lan là bộ phận chính hút nước, hút chất dinh dưỡng trong không khí để nuôi cây. Trồng lan rừng cũng luôn luôn phải quán triệt tinh thần “mười cây chết chín” để không nản chí khi bỏ tiền ra mua cây đem về cuối cùng trắng tay. Mua mười cây sống được một cây là may. Tốn tiền, tốn sức nhưng với phong lan vẫn là niềm đam mê của bao người. Thật vui khi bất chợt thấy trên thân cây phong lan khô héo có một nụ hoa nhú ra, hồi hộp chờ cho những cánh hoa xòe nở và hưởng thụ mùi hương thơm ngan ngát của nó. Đến chợ phong lan mới thấy các bà các cô mới đúng là “dân chơi” lan sành điệu. Họ mua bán bạo hơn cánh đàn ông rất nhiều. Tôi từng gặp mấy bà trả giá và mua rất nhanh những giò phong lan đang ra hoa rất đẹp giá từ sáu, bảy trăm ngàn đến cả triệu đồng. Đi chợ phong lan nhìn những cây lan có lẽ được lấy từ trên rừng cả tháng rồi, héo quắt, nhàu nhĩ nhưng giá không phải là rẻ tôi lại nhớ đến những ngày ở rừng phong lan mọc đầy vách núi, khe đá ven bờ suối, lủng lẳng trên cây. Bây giờ giữa chốn phố phường có những vườn phong lan rừng của dân chơi lan Hà thành rất nhiều loài hoa quý, càng khâm phục sự kỳ công và kiên nhẫn và niềm say mê của họ. Có những vườn lan trên sân thượng tầng năm mà như trong rừng già vậy. Hoa lan đủ loại, nở rất đẹp và thơm ngát.
Đi chợ phong lan, nhìn những chùm hoa của núi rừng nở rực rỡ giữa phố phường khiến lòng tôi xao động bao suy nghĩ. Tôi nhớ lại những ngày ở rừng gian khổ, nhớ những lần đi tìm hoa phong lan giữa chốn rừng già hoang vắng, nhớ về một thời chiến tranh, một thời trai trẻ đầy gian khổ đã qua.
Hà Nội, tháng 8/2011
TB
lienson | 19 August, 2011 08:58
DÂN CHỦ TUYỆT ĐỐI
Tiểu phẩm của Trọng Bảo
Dịch tiếp câu chuyện vui của nước ngoài.
Sau khi nghe quan giám sát tấu trình tình hình đất nước nhà vua suy nghĩ rất lung. Đất nước thanh bình không thể duy trì mãi chế độ cai trị theo kiểu mệnh lệnh quân sự được nữa. Nhà vua quyết định chuyển sang thực thi chế độ “dân chủ tuyệt đối”. Nhà vua ban chiếu quy định rõ ràng theo chế độ này thì mọi việc dù ngoài xã hội hay trong gia đình đều phải có sự dân chủ bàn bạc. Dứt khoát các việc đều phải được 2/3 số phiếu biểu quyết thì mới được thực hiện.
Từ ngày thực thi kế sách “dân chủ tuyệt đối” trong xã hội và trong gia đình có sự thay đổi rõ rệt. Đất nước thì hoà bình, gia đình thì hoà thuận, ai cũng phấn khởi.
Thế nhưng một thời gian sau lại nảy sinh mâu thuẫn. Nhiều việc đình trệ không giải quyết được vì không đủ số phiếu biểu quyết quá 2/3 như nhà vua đã quy định. Đầu tiên là việc trong từng gia đình. Khi bàn luận việc gì nếu hai vợ chồng không nhất trí thì không làm được, vì lúc biểu quyết cứ 50%, chả làm sao quá bán. Vợ đồng ý thì chồng không nhất trí. Chồng thích mê nhưng vợ lại bác bỏ. Ngày xưa chế độ mệnh lệnh quân sự vợ ra lệnh là chồng phải theo răm rắp, chồng bảo thì vợ phải nghe. Bây giờ thì chịu, chả ai nghe ai. Vợ biểu quyết “lên giường” chồng lại bỏ phiếu “uống rượu”, cứ vênh váo nhau, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược như thế thật khó thực hiện.
Rồi chuyện xảy ra ngay trong cung đình của nhà vua. Một hôm do bọn nô tỳ sơ ý trong khi thắp nến gây ra hoả hoạn. Lửa bùng cháy ở một gian phòng rồi lan ra toàn bộ hoàng cung. Cả cung điện cháy rụi. Nhà vua bực lắm, cho triệu ngay quan tể tướng đến hỏi:
- Tại sao các khanh có cả hàng trăm, hàng ngàn cấm vệ quân, thái giám, nô tỳ mà lại không chữa cháy được, để lửa thiêu rụi hết cả cung điện thế hả?
- Tâu bệ hạ! Là tại các quan không thống nhất được phương pháp chữa cháy ạ!
- Thống nhất cái gì! Lửa cháy phải dập ngay còn bàn bạc gì nữa?
- Thưa bệ hạ, là khi lửa vừa bắt đầu bùng lên, quan văn thì bảo phải dùng câu liêm, đem thùng gỗ xách nước dội vào để chữa cháy. Quan võ thì yêu cầu sử dụng bình bọt, xe cứu hỏa để dập lửa. Chả bên nào chịu bên nào, biểu quyết thì cứ 50% trên 50% nên không thể thực hiện được ạ!
Vua đập bàn cáu:
- Chữa cháy bằng cách nào dập được lửa thì làm, tại sao các quan phải bàn luận vớ vẩn thế?
- Không hẳn thế ạ! Quan văn thì bảo dùng câu liêm và nước dập lửa là cách truyền thống của chế độ ta, còn sử dụng bình bọt và xe cứu hoả là các thứ ta mua của các nước thuộc “chế độ tư bản chủ nghĩa”. Nếu dùng bình bọt và xe cứu hoả thì sẽ xúc phạm đến chế độ ta ạ!
- Các khanh thật là lắm chuyện nên mới để cháy hết cả cung điện của ta thế này!
- Thưa bệ hạ! Khi không thống nhất được biện pháp để chữa cháy bọn thần quyết định dùng cả hai phương pháp, nhưng lại nảy sinh ra mâu thuẫn khác ạ!
- Lại mâu thuẫn gì nữa?
- Thưa là khi chuẩn bị cho quân lính chữa cháy thì các quan văn lại có ý kiến. Họ nói khu chính điện, nơi nhà vua ngự khi thiết triều không được chữa cháy bằng các dụng cụ của các nước tư bản, vì như thế là “khi quân phạm thượng”, tội chém đầu không tha. Nghe vậy ai cũng hoảng sợ ạ!
lienson | 17 August, 2011 15:18
MỆNH LỆNH QUÂN SỰ
Tiểu phẩm của Trọng Bảo
Chuyện vui này là do tôi dịch được của nước ngoài.
Tại một nước nọ họ vẫn duy trì rất nghiêm khắc chế độ mệnh lệnh quân sự. Mọi người từ bé đến lớn, từ già đến trẻ đều phải nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh khi người chỉ huy, người phụ trách ban ra. Ví dụ ở nước này không cần có bệnh viện. Khi một người có hiện tượng sắp bị ốm, ông thủ trưởng cơ quan chỉ cần hô mệnh lệnh: “Dừng lại, không được ốm” thì lập tức anh ta sẽ không ốm nữa. Đàn ông định đánh vợ, người vợ chỉ cần hô: “Nghiêm” là ông chồng đứng nghiêm như một quân nhân, không dám động chân, động tay chạm vào bà vợ.
Mệnh lệnh quân sự tạo cho cả nước luôn luôn răm rắp hành động, muôn người như một. Vị vua ở nước này chả cần phải ban hành các văn bản hiến pháp, pháp luật gì cả, chỉ việc hàng ngày hô khẩu lệnh cho thần dân là xong. Ví dụ để nhân dân ra đồng làm việc vua chỉ cần hô: “Tất cả đi cày!”. Thế là toàn dân sẽ đi cày. Vua chỉ thét: “Binh lính ra trận!”. Toàn quân sẽ lập tức xông ra mặt trận, chiến đấu không ngừng nghỉ, tiêu diệt hết quân thù mới trở về quê hương.
Đất nước này vì thế mà giữ được ổn định, thái bình rất dài lâu.
Nhưng rồi lại xảy ra một hiện tượng lạ là trong nước xuất hiện quá nhiều trẻ con, đàn ông thì ngày một ốm yếu, tiều tụy, làm việc công tác năng xuất không cao. Mỗi khi lệnh vua ban ra họ vẫn chấp hành rất nghiêm túc nhưng máy móc, không có sự sáng tạo. Trước tình hình ấy, nhà vua liền cho gọi vị quan giám sát đến bảo:
- Nhà ngươi hãy đem theo vài nghìn lạng vàng làm lộ phí đi điều tra xem sự thể dân nước ta thế nào mà tinh lực, thể lực, trí lực và công lực lại càng ngày càng thấp thế?
- Thưa bệ hạ thần xin tuân chỉ!
Vị quan giám sát cải trang làm dân thường đi tuần thú thiên hạ. Sau một thời gian ông ta trở về gặp nhà vua. Vừa nhìn thấy ông ta, nhà vua kinh hãi hỏi:
- Tại sao nhà ngươi lại tiều tụy thế. Khi rời khỏi hoàng cung nhà người béo khỏe mà bây giờ lại xơ xác thế này!
- Là tại thần đi thực tế để thực hiện mệnh lệnh của bệ hạ đấy ạ!
- Thế người đã tìm hiểu rõ sự thể vì sao dân nước ta thế nào mà tinh lực, thể lực, trí lực và công lực lại càng ngày càng thấp chưa?
- Dạ thưa là vì… vì… nước ta thi hành chế độ quân lệnh quá hà khắc và quá lâu đấy ạ!
- Tại sao thế! Chế độ mệnh lệnh quân sự giúp nước ta trăm người như một, nhất trí đồng lòng trong mọi việc lại không tốt à?
- Cũng có mặt tốt, cũng có hạn chế ạ!
- Hạn chế ở điểm nào?
- Hạn chế ở chỗ nhiều người đã quá lạm dụng mệnh lệnh quân sự ạ!
- Nhà ngươi ví dụ cho ta nghe nào?
- Ví dụ… các bà vợ đã lạm dụng mệnh lệnh quá mức. Họ thường xuyên hô mệnh lệnh cho các ông chồng: “Không được uống rượu!” ạ…
Nhà vua cắt lời vị quan giám sát:
- Không uống rượu là tốt, đỡ say sưa quá đà gây mất ổn định đất nước.
- Nhưng các bà ấy cũng lại rất hay hô khẩu lệnh cho các ông chồng: “Lên giường!”. Rồi cứ luôn mồm hô: “Tiếp tục… tiếp tục…”, không cho các ông chồng dừng lại. Vậy thế nên đàn ông nước ta ban ngày thì bị vua hô ra đồng, vào xưởng máy lao động, ban đêm thì bị vợ hô lên giường “làm việc” dẫn đến tinh lực, thể lực, trí lực, công lực càng ngày càng suy giảm, trẻ con thì ngày lại càng đông ra vì vậy ạ!
lienson | 15 August, 2011 09:26
Chuyện lão Thực
Truyện của Trọng Bảo
Câu chuyện thứ 7: Lão Thực và giấc mơ trưa
Một buổi trưa, trong khu vườn sinh thái của lão Thực mọi người đang quây quần quanh ấm nước chè xanh rôm rả bàn chuyện xóm làng, chuyện đồng áng. Đúng khi lão Thực vừa bưng bát nước chè xanh đặc sánh lên thì thằng Nhân lao vào hổn hển nói:
- Các cụ, các ông và các bác đã biết chuyện gì chưa?
- Chuyện gì! - Ông Bứa vừa nhồm nhoàm nhai củ khoai lang vừa nhấm nhẳng bảo: - Có chuyện gì thì mày nói mẹ nó ra đi rồi ngồi xuống ăn củ khoai lang và làm bát nước chè tươi của cụ Thực, ngon lắm.
Thằng Nhân ném cái võng đay lên chạc ba cây nhãn rồi ngồi xuống mép chiếu. Nó khua khua tay:
- Chuyện rất quan trọng! Để yên cháu kể cho mà nghe!
- Thì chúng tao vẫn để yên cho mày nói đấy chứ có ai bóp cổ mày đâu?
- Ông chủ tịch xã ta phen này thì đi dứt rồi…
- Tại sao thế? Mà thôi hội ta đã quy định là không bàn bạc đến chuyện nhân sự nữa cơ mà?
Ông Bứa vội ngăn nó. Lão Thực cũng nhăn mặt:
- Kể chuyện khác đi, chuyện nhân sự tao thấy ngán lắm rồi!
- Không… - Thằng thợ xây vặt quanh làng quanh xã lại vung tay lên: - Đây không phải là “chuyện nhân sự” mà là "chuyện hình sự" cơ mà!
- Chuyện hình sự thế nào?
- Cháu vừa từ trên trụ sở uỷ ban xã chạy ngay về đây để thông báo cho mọi người biết! Công an đã vừa đọc lệnh bắt tạm giam rồi!
- Bắt ai?
- Bắt chủ tịch xã ta!
- Sao ông ấy lại bị bắt?
- Thì khai khống diện tích giải phóng mặt bằng khu công nghiệp để nhận tiền đền bù, rồi bán đất… Nghe nói tham nhũng ngót cả chục tỷ đồng đấy!
- Thế cơ à…
Mọi người ồn ào cả lên trước cái tin sốt dẻo động trời mà thằng Nhân vừa thông báo.
Thằng Nhân bấy giờ mới bình tĩnh kể lại toàn bộ nội dung câu chuyện cho có đầu, có đũa. Cụ thể là cuối giờ buổi sáng nay khi nó đang gấp rút hoàn thiện cái nhà tắm “nóng-lạnh” cho lãnh đạo xã thì thấy có hai chiếc xe công an chạy thẳng vào sân trụ sở uỷ ban xã. Một chiếc xe chở người, một chiếc xe dùng để chở tù. Công an vào ngay phòng ông chủ tịch. Họ đọc lệnh bắt, khám xét nơi làm việc và nhà riêng của ông chủ tịch xã và mấy người nữa. Lãnh đạo và các cán bộ của xã bấy giờ mới ngã ngửa người ra. Hoá ra ngay từ khi có dự án xây dựng khu công nghiệp tại đây đã một dây chuyền tham nhũng hình thành ở xã Quan Sơn. Ông chủ tịch, bà cán bộ tài chính, ông cán bộ địa chính đã cấu kết với ban giải phóng mặt bằng. Họ khai khống diện tích giải phóng mặt bằng để nhận tiền đền bù chia nhau. Rồi họ bớt xén cả tiền đền bù của bà con nhân dân trong xã. Không những thế, bọn họ còn kiếm được mỗi người mấy xuất đất tái định cư, giãn dân nữa.
Kể xong câu chuyện vừa xảy ra, thằng Nhân quay sang nhìn lão Thực vẻ hứng khởi bảo:
- Phen này thì cụ vui mừng quá rồi! Những người vẫn hay lên giọng đe nẹt cụ, phủ nhận công lao của cụ, làm sai lệch lịch sử của xã ta đều đã bị bắt hết cả rồi cụ ạ! Cụ phải thịt gà, mổ ba ba tổ chức liên hoan đi thôi!
Lão Thực nhăn mặt không nói gì. Ông Bứa cau có:
- Mày trẻ người, non dạ nên còn ngu lắm con ạ! Chuyện này có gì mà vui mừng. Chỉ là một việc thật đáng buồn thôi có phải không ông Thực?
Lão Thực gật đầu. Đúng! Đây chỉ là một chuyện đáng buồn và đau xót cho xã Quan Sơn. Anh chủ tịch xã ấy còn là con của một người bạn chiến đấu trong đội du kích ngày xưa của lão nữa. Lão Thực đặt bát nước chè xanh đang uống xuống chiếu. Ngụm nước chè tươi lão vừa nuốt sao mà đắng thế. Chép miệng mấy lần vẫn thấy đắng ngắt.
Khi mọi người vẫn còn ồn ào bàn chuyện ông chủ tịch và mấy cán bộ xã bị công an bắt thì lão Thực đứng dậy. Lão chậm chạp bước lại chỗ chiếc võng của mình đang mắc giữa gốc cây quéo già và cây vải non mới cho quả vụ đầu. Lão ngả lưng xuống chiếc võng gai khẽ đu đưa. Lão nằm vắt tay lên trán suy nghĩ về câu chuyện thằng Nhân vừa kể. Lão cứ nghĩ lan man đến chuyện ngày trai trẻ, nhớ về những chặng đường đời gập ghềnh mình đã trải qua. Trời đã quá trưa ngả sang chiều. Lẻ tẻ có những người rời khỏi khu vườn sinh thái của lão về để đi làm đồng buổi chiều. Mọi người chào nhưng không thấy lão Thực đáp lời như những bữa trước. Họ nghĩ là lão đã ngủ hoặc đang mải suy nghĩ. Sự việc thằng Nhân thông báo đáng để suy nghĩ lắm chứ? Đúng là lão Thực đang suy nghĩ. Chiếc võng thôi đung đưa. Mọi người đã ra về hết. Khu vườn của lão Thực trở nên yên ắng. Lão Thực thấy lơ mơ. Người lão cứ bồng bềnh lâng lâng. Tư duy lão lúc rành mạch, lúc lại rất mông lung...
Chợt có tiếng ậm è phía cổng vườn. Lão Thực liền ngồi dậy trên võng. Có một người nhấc cánh cổng bằng tre bước vào. Lão Thực nheo mắt nhìn. Đó là một người đàn ông đã luống tuổi. Hắn ta đi vào vườn. Một bên sườn hắn đeo chiếc xà-cột đen, một bên hông đeo chiếc đài Xiêng-mao. Lão Thực vô cùng kinh ngạc khi nhận ra đó chính là đội trưởng đội cải cách ruộng đất và cũng là chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp Quyết Tiến Hà Văn Bồi. Lão lập bập hỏi:
- Ông… ông vẫn còn sống à?
- Vẫn còn… vẫn còn…
- Nhưng hồi ấy ông đã bị sét đánh chết giữa cánh đồng rồi cơ mà?
- Sét đánh chết thế nào được tôi. Những người như tôi thì chết làm sao được chứ! Tôi sẽ còn sống mãi, tồn tại mãi mãi… mãi... mãi... ha… ha… ha…
lienson | 12 August, 2011 10:10
THÔNG BÁO
Mời thăm nhà mới
Kính mời các bạn đến thăm Blogs mới của Trọng Bảo. Hiện nay trên blogspot mới này đã có khoảng gần 100 truyện ngắn và các phần của hai cuốn tiểu thuyết Chuyện đời hắn và truyện dài Dốc núi. Các tản văn và tiểu phẩm, chuyện vui của tôi cũng sẽ được chuyển dần sang đây.
Địa chỉ truy cập là: http://trongbaoblogspotcom.blogspot.com
và xin ghé thăm: http://vn.360plus.yahoo.com/trongbao.ls56
Chân thành cảm ơn các bạn độc giả vẫn yêu quý và động viên.
Trọng Bảo
lienson | 09 August, 2011 22:04
Chuyện lão Thực
Truyện của Trọng Bảo
Câu chuyện thứ 6: Lão Thực và con gái
Câu chuyện lão Thực hì hục một mình lao động trên thửa ruộng tư hữu đã khiến cho có người thắc hỏi: “Lão này không có vợ con gì à?”. Xin nói ngay, lão cũng có vợ con đấy chứ, nhưng sau khi vào hợp tác xã lão mới cưới vợ. Câu chuyện lão có vợ cũng hoàn toàn ngẫu nhiên. Mọi chuyện bắt đầu từ một ngày đáng nhớ. Đó là ngày giỗ của cô Thoa. Lão Thực cầm thẻ nhang ra một người nữ du kích. Lão cố ý đi vào buổi chiều. Vì lão biết buổi sáng người nhà cô Thoa thường hay đến thăm mộ. Lão tránh gặp họ. Vì lão vẫn còn ngại họ nghĩ cô Thoa chết là do lão. Mặc dù nguyên nhân chính phải là do đội trưởng du kích Hà Văn Bồi chịu trách nhiệm. Nhưng đội trưởng Hà Văn Bồi thì cũng đã bị sét đánh chết giữa cánh đồng rồi.
Châm mấy nén nhang cắm lên mộ xong. lão Thực đang lúi húi nhổ mấy búi cỏ xung quanh nấm đất thì giật mình nghe có tiếng động sau lưng. Lão quay lại và nhận ra ông cụ Tam, bố cô Thoa cùng một người đàn bà và một cô bé đang đứng ngay phía sau lưng mình. Ông cụ Tam bây giờ đã già yếu lắm rồi. Ông chống cái gậy lưng còng hẳn xuống. Lão đứng dậy, tay vẫn cầm nắm cỏ ấp úng:
- Cháu chào ông ạ!
Ông Tam gật đầu chào lại. Ông cụ cũng đã biết tại sao lão lại ở đây vào ngày này. Ông cụ bảo:
- Anh giúp em nó bày đồ cúng, hoa quả ra đi! Cúng xong mời anh về nhà tôi uống chén rượu nhạt để tưởng nhớ ngày mất của em Thoa!
Lão Thực giúp cô gái bày đồ cúng ra. Cô này là em con ông chú của Thoa. Cô ở trên thị trấn đưa con về ăn giỗ chị. Ông Tam lại bảo:
- Sau giỗ, tôi sẽ đưa mộ em Thoa về đặt gần mộ mẹ nó để hai mẹ con luôn được ở gần nhau.
Lão Thực vội can:
- Cháu nghe nói xã đang hoàn chỉnh thủ tục công nhận cô Thoa là liệt sĩ. Hay là… cứ để Thoa ở đây. Khi nào Thoa được công nhận là liệt sĩ thì đưa vào nghĩa trang liệt sĩ của xã ta bác ạ!
- Thôi anh ạ! Cũng chả quan trọng gì. Để em nó ở gần mẹ vẫn hơn. Vinh quang, danh dự đến đâu thì người cũng đã mất rồi còn gì nữa!
Giọng của ông Tam bùi ngùi. Lão Thực cũng thấy nao nao trong lòng. Nhớ lại những ngày hai người cùng ở trong cùng đội du kích quấn quýt bên nhau. Thế mà bây giờ mỗi người một ngả, âm dương cách biệt. Rất gần nhau đây nhưng là xa cách ngàn trùng. Hoa quả bày xong, lão Thực và hai mẹ con người đàn bà đứng sau ông cụ Tam. Họ lầm rầm khấn vái. Mỗi người một tâm trạng khi đứng trước nấm mộ của người đã chết. Nắm hương cắm trên mộ tự nhiên bùng lên cháy thành ngọn lửa. “Hoá chân nhang rồi!” - Lão Thực nghĩ. Chắc là hương hồn của Thoa đang quanh quất đâu đây. Thoa đang nhìn thấy mọi người. Nhưng mọi người và lão lại không thế nhìn thấy cô.
Ông cụ Tam nhắc lại:
- Anh về luôn trong nhà thắp nén hương trên bàn thờ em nó và uống chén rượu nhạt với gia đình chúng tôi...
Lão Thực không dám từ chối.
Lão theo ông cụ và hai mẹ con người đàn bà về nhà cô Thoa. Trong bữa giỗ ấy lão mới biết người đàn bà em họ cô Thoa tên là Lý. Chồng chị ta cũng đã chết trong chiến tranh do bị trúng bom của bọn Pháp ném xuống phố chợ. Họ chỉ có một đứa con gái nhỏ. Cô bé hơn tám tuổi. Khi nó sinh ra thì bố đã chết được hơn năm tháng rồi. Ông cụ Tam có ý muốn vun cho hai người với nhau. Khi ấy, lão Thực thì cũng đã ngót nghét bốn chục tuổi rồi còn gì. Sau kháng chiến số lão lật đật, làm ăn cá thể, mãi mới được kết nạp vào làm xã viên hợp tác xã. Bây giờ thì lão đã là một xã viên gương mẫu, một lao động tiên tiến luôn luôn có số công điểm cao nhất đội sản xuất rồi.
Đám cưới của lão với cô Lý cũng đơn giản. Ông cụ Tam đứng ra lo cho cả hai người. Cụ vừa đại diện cho nhà gái lại vừa đại diện cho nhà trai. Lão Thực tứ cố vô thân. Từ ngày Thoa chết, lão coi ông cụ Tam như một người cha của mình. Ông cụ già yếu, không có sức lao động, đến mùa hợp tác xã chỉ “điều hoà” bán cho năm mươi ki-lô-gam thóc, tính ra chỉ có tám ki-lô-gam thóc một tháng. Ông cụ ăn ít thì mỗi tháng với số thóc ấy xay sát ra chỉ được có bốn ki-lô-gam gạo, cũng chả thể nào đủ. Ngày còn làm ruộng cá thể, lão Thực vẫn mang gạo đến cho cụ mỗi tháng thêm vài ba cân. Ông cụ từ chối không nhận lão cũng cứ để lại. Nghĩ mà buồn cười, một người như nhà ông cụ Tam, trong cải cách ruộng đất suýt nữa lên thành phần địa chủ thế mà vào hợp tác xã, ruộng đất, trâu bò công hữu hết, mỗi tháng được bán điều hoà cho tám cân thóc, chả đủ nấu cháo cầm hơi.
lienson | 04 August, 2011 16:35
Chuyện lão Thực
Truyện của Trọng Bảo
Câu chuyện thứ 5: Lão Thực và hợp tác xã
Lão Thực bị khai trừ khỏi tổ chức và đội du kích sau cái bận đấu tố địa chủ trong cải cách ruộng đất ấy. Khi tiến hành sửa sai họ cũng không phục hồi cho lão. Lão Thực lâm vào hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan. Lão không được chia ruộng đất nên không biết làm gì để sống. Lão sắm một cái vó. Ngày ngày lão ra sông Đáy kéo vó kiếm con tôm, con cá đem lên chợ bán hoặc đổi lấy gạo muối. Mùa nước sông cạn, không kiếm được tôm cá thì lão lên rừng chặt củi khô để bán.
Một hôm gánh củi băng qua cánh đồng thôn Bắc lão thấy có một bãi đất hoang rộng đến gần ba sào đầy cây cỏ dại, lổn nhổn những đá sỏi. Lão quyết định khai khẩn bãi đất hoang để cấy lúa. Lão hì hục đào gốc cây, nhổ cỏ bê vần những hòn đá mồ côi xếp xung quanh thành bờ ruộng. Đám đất khô cằn nên cấy lúa thì leo pheo khổ trổ bông, trồng khoai thì không có củ. Không nản chí, lão vẫn kiên trì cải tạo, bồi bổ tăng cường độ phì nhiêu cho thửa ruộng mình vỡ hoang được. Lão quảy quang gánh lên đồi theo đàn trâu bò thả rông nhặt phân, ra bờ sông lấy phù sa về đổ vào mảnh đất. Kiên trì mãi, đám ruộng cũng trở nên phì nhiêu, cấy lúa đã cho bông, trồng khoai đã có củ. Thế là lão cũng trở thành người có ruộng.
Khi hợp tác xã nông nghiệp được thành lập lão Thực rất muốn tham gia. Nhưng xét về nhân thân của lão nên họ chưa muốn kết nạp vào hợp tác xã. Đội trưởng đội cải cách Hà Văn Bồi bây giờ là chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp mang tên Quyết Tiến gồm các làng Đông, thôn Bắc, xã Quan Sơn. Chủ nhiệm Bồi lúc nào cũng đeo một bên hông một cái xà-cột đen căng phồng, một bên là cái đài Xiêng-mao Trung Quốc, đạp chiếc xe đạp Thống nhất đi thăm đồng, chỉ đạo các đội sản xuất trông rất oai phong. Các xã viên đội sản xuất làng Đông lao động tập thể, ngày ngày kéo nhau thành đoàn ra đồng cày bừa, gặt hái, nghỉ giải lao, đều theo tiếng kẻng khí thế rất hồi hởi, vui vẻ. Trên cánh đồng hợp tác cờ đỏ tung bay phần phật, khẩu hiệu giăng cắm khắp các bờ ruộng, tiếng loa phóng thanh ca nhạc, hò hát tưng bừng. Thế nhưng, làm ruộng theo cách “đánh trống ghi công”, quản lý tài sản, vật tư theo kiểu “cha chung không ai khóc” chỉ được cái khí thế tưng bừng, hồ hởi nhưng năng suất thì lại rất thấp. Ruộng lúa của hợp tác xã chuột chạy hở lưng, chim bay không vướng, bông lúa toàn là hạt lép. Trong khi đó mảnh ruộng vỡ hoang của lão Thực lúa tốt bời bời, bông dài, hạt mẩy. Chỉ có điều là trong khi khắp cánh đồng rộn ràng tiếng hát của các xã viên lao động tập thể thì lão Thực lủi thủi một mình gặt lúa. Lão ôm những bó lúa nặng chĩu hạt đặt lên bờ cạnh những bó lúa toàn là rơm của hợp tác xã. Chính vì vậy mà có việc chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp Quyết Tiến Hà Văn Bồi đến gặp lão Thực.
Do là hộ làm ăn cá thể, tư hữu nên nhà lão Thực ngày ấy rất ít người đến chơi. Vậy mà buổi trưa nay khi vừa từ ruộng về, lão đã có khách. Chủ nhiệm Bồi dắt chiếc xe Thống nhất đi vào. Tiếng líp xe đạp lạch tạch, Tiếng cái đài Xiêng-mao kêu xoe xóe từ ngoài cổng. Lão Thực lúng túng ra đón khách. Lão pha nước mời ông chủ nhiệm hợp tác xã. Ông chủ nhiệm không uống. Có lẽ ông ta sợ uống nước của phần tử tư hữu sẽ bị ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân chăng. Ông ậm è hắng giọng rồi bắt đầu nói:
- Ông Thực này! Hiện nay miền Bắc ta đang tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không kinh qua phát triển tư bản chủ nghĩa đấy!
- Vâng… - Lão Thực miễn cưỡng “vâng… vâng…” đáp lại cho có vẻ tôn trọng ông chủ nhiệm nguyên đội trưởng đội cải cách ruộng đất.
lienson | 01 August, 2011 21:53
Chuyện lão Thực
Truyện của Trọng Bảo
Câu chuyện thứ 4: Lão Thực và cải cách ruộng đất
Ngày ấy, sau cái chết của cô Thoa, lão Thực đâm ra chán nản. Nhiệm vụ phân công lão vẫn hoàn thành nhưng không hăng hái chiến đấu như trước nữa. Lão còn bị kiểm điểm vì một chuyện không đâu. Đó là việc đã bắn chết một tên địch mà lẽ ra có thể bắt sống nó để khai thác tin tức.
Hôm đó, phát hiện ra có một toán địch vượt sông Đáy ra vùng tự do của ta để trinh sát, đội du kích được lệnh chặn đánh tiêu diệt và bắt sống tù binh địch. Toán biệt kích địch thâm nhập vào làng Tích Phổ ở sát bờ sông. Dân làng Tích Phổ đã đi tản cư triệt để. Làng gần như vườn không, nhà trống, chỉ có các đội viên đội du kích của xã qua lại hoạt động mà chủ yếu là ban đêm. Ban ngày máy bay bà già của bọn Pháp hay bay vè vè dọc theo bờ sông, chỉ cần phát hiện có bóng người trong làng là chúng lập tức bắn rốc-két xuống ngay. Toán địch mò vào làng bị du kích chặn đánh. Một thằng bị bắn chết tại chỗ, hai thằng khác tháo chạy ra phía bờ sông. Một tên nhào được xuống sông thoát thân. Một tên chạy vào bãi ngô chỗ lão Thực được phân công phục kích đón lõng. Lão Thực lao ra chặn ngang đường rút của tên địch. Khi thấy lão bất ngờ xuất hiện, nòng súng của lão dí sát ngực mình tên giặc hoảng hốt vội giơ tay lên. Lão Thực chợt nhận ra một khuôn mặt quen quen. Khi lão xông đến thì đạp trúng một quả bí ngô nên bị trượt chân loạng choạng. Tên giặc thừa cơ bỏ chạy. Lão đuổi theo sát sau lưng nó. Lẽ ra vẫn có thể bắt sống tên biệt kích thì lão lại nổ súng. Viên đạn găm thẳng vào lưng tên giặc xuyên ra phía ngực trái. Nó ngã úp mặt xuống rãnh ngô. Lão lật nó lên nhìn. Quả là không sai. Nó chính là cái tên đã lôi xác Thoa từ mép sông lên treo trên cành cây gạo chỗ dốc đê. Vết sẹo dài trên mặt nó lão không thể quên.
Lão Thực bị kiểm điểm vì không hoàn thành nhiệm vụ bắt sống tù binh. Sau bận ấy, đội du kích không giao nhiệm vụ gì cho lão nữa. Lão như một người thừa ở trong đội. Lão lang thang đi bẫy chim hoặc lần xuống tận mép sông đặt lờ bắt tôm cá. Nhưng chim, tôm cá của lão đem về anh chị em trong đội du kích cũng không ăn. Họ ngại vì không muốn dính dáng đến một kẻ chậm tiến, một người đang có vấn đề như lão. Đầu năm 1954, khi thế tổng tiến công Đông Xuân 1953-1954 sôi sùng sục. Hình như ngày kháng chiến thắng lợi sắp đến gần. Trong đội du kích nhiều người được đưa lên chiến khu tham gia quân chủ lực. Chị em phụ nữ thì xung phong đi dân công hỏa tuyến lên mặt trận Điện Biên Phủ. Lão cũng xung phong vào bộ đội ra trận nhưng chờ mãi không thấy thượng cấp nói gì.
Một buổi tối nhá nhem nhọ mặt người, lão Thực được liên lạc của đội du kích gọi lên nhà chỉ huy gấp. Nghĩ mình được cấp trên giao nhiệm vụ, lão vội vã đeo súng đi ngay.
Căn nhà gỗ nhỏ nép vào vách đá chân núi Mả Voi là nơi vẫn đặt sở chỉ huy của đội du kích. Trong nhà đã có mấy người đang ngồi quanh một ngọn đèn dầu cháy leo lét bằng hạt đỗ. Ánh sáng chập chờn của ngọn đèn không đủ soi rõ mặt người, chỉ có những cái bóng của họ là in rõ trên vách thành những hình thù méo mó, kỳ dị. Lão vừa bước vào cửa thì anh Thạo, đội trưởng đội du kích bảo:
- Đồng chí Thực ngồi xuống đi!
Lão ngồi xuống một cái ghế đẩu còn trống đối diện với mấy người đến trước. Lại là tiếng anh đội trưởng du kích:
- Bây giờ chúng ta bắt đầu vào việc! Kính mời anh Bồi phát biểu!
Nghe anh đội trưởng nói vậy, lão Thực giật mình. Lão căng mắt ra nhìn. Ngồi trước mặt lão chính là Hà Văn Bồi-người đội trưởng đội du kích cũ. Tại sao anh ta lại về đây nhỉ? Anh ta đã được điều lên chiến khu nhận công tác khác sau vụ cô Thoa bị địch giết rồi cơ mà. Hình như chợt nhận ra là chưa nói đầy đủ rõ ràng, anh Thạo lại đứng dậy nói thêm:
- À quên! Chưa nói rõ! Xin giới thiệu với mọi người, anh Bồi được cấp trên biệt phái về xã ta để làm công tác phát động quần chúng. Anh Bồi bây giờ là đội trưởng đội cải cách ruộng đất. Hôm nay, anh Bồi sẽ gặp để “bồi dưỡng” các nhân cốt chuẩn bị cho đợt đấu tố sắp tới. Chú Thực, cô Tẻo, bà Mùa đều là những bần cố nông, ba bốn đời nghèo khổ, chuyên đi làm thuê, làm mướn nên chính là tầng lớp cốt cán, tuyệt đối tin cậy đấy.
Thì ra là vậy. Cải cách ruộng đất là làm gì! Lão Thực thấy băn khoăn, thắc mắc. Lão suy đoán chắc là họ sẽ tịch thu ruộng của địa chủ, phú hào chia cho những bọn bần cố nông không tấc đất cắm dùi như lão. Thế thì tốt quá, hay quá, sướng quá. Nghĩ vậy nên mặc dù thấy khó chịu khi phải ngồi nghe cái tay đội trưởng đội du kích cũ nói nhưng lão vẫn cố nén nhịn. Đội trưởng đội cải cách Hà Văn Bồi đưa mắt nhìn các “cốt cán” bần cố nông rồi hỏi:
- Bà Mùa mấy đời đi ở cho địa chủ rồi nhỉ?
- Thưa… nhà tôi hai, à phải đến ba đời đi ở rồi ạ!
- Thế thì tốt! Vậy còn cô Tẻo?
- Nhà cháu ba đời đi ở cho địa chủ rồi đấy ạ! Cháu… cháu khổ lắm… hu... hu… hu…
lienson | 31 July, 2011 16:56
“Quyết tử”
Hung hãn cầm tuýt sắt xông vào
Đánh cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ
Đã vi phạm lại còn “quyết tử”
Thanh niên này chắc có máu du côn!
Hoá ra lại là một… công an
Một sĩ quan cấp hàm trung uý
Thế mà hiên ngang đánh đồng chí
Với đồng bào còn có nể trọng không?
HN, 31/7/2011
TB
Theo báo Tiền phong: Bước đầu cơ quan chức năng có liên quan đã xác định được người thanh niên lao vào dùng tuýp sắt tấn công CSGT đang làm nhiệm vụ tên Trần Đại Ph. cấp bậc trung úy và công tác tại Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động số 1, Phòng Cảnh sát cơ động (PK 20) Công an thành phố HCM, có Trụ sở đóng ở chân cầu Bình Lợi (quận Bình Thạnh).
lienson | 29 July, 2011 21:44
Chuyện lão Thực
Truyện của Trọng Bảo
Câu chuyện thứ 3: Lão Thực và tình yêu
Từ hôm đọc cuốn lịch sử xã Quan Sơn khiến lão Thực cứ thấy trong lòng thấp thỏm, bất an. Không phải vì lão suy nghĩ về những đoạn sai lệch trong cuốn lịch sử. Cũng không phải lão buồn vì người ta đã quên hết công lao của những người như lão trong cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ. Đó chỉ là chuyện vặt trong cuộc đời mỗi con người. Công lao cũng chả là gì, sự sống mới là vĩnh cửu. Thế hệ lão đã bao nhiêu người đang nằm dưới cỏ rồi.
Chiều nay lão Thực không ra hồ cắt cỏ nuôi cá nữa. Lão mặc một bộ quần áo tươm tất rồi đi ra cổng. Một thằng thanh niên đang ngồi ở cái quán đầu làng gọi vọng ra:
- Cụ Thực ơi! Cụ lại lên xã để bàn về “công tác nhân sự” đấy à? Mời cụ vào làm chén nước chè đã ạ!
Lão Thực lẩm bẩm:
- Chỉ được cái bố láo! Tao già rồi còn nhân sự, nhân xiếc gì nữa!
Có tiếng cười nhộn nhạo trong quán. Một thằng tếu táo: “Cụ cứ cách chức mẹ cái bọn chuyên ăn chặn, bớt xén tiền đền bù giải phóng mặt bằng khu công nghiệp đi cho dân làng nhờ cụ nhá!”. Lão Thực không thèm nói chuyện với bọn ranh con vô công rồi nghề. Tuy thế, lão vẫn rẽ vào quán. Mấy thằng thanh niên vội ngồi dịch ra nhường chỗ cho lão. Nhưng lão không uống nước. Lão mua một thẻ hương rồi đi luôn. Bọn thanh niên ngạc nhiên. Mấy thằng nháy nhau lập tức bám theo chân lão.
Lão Thực đi về khu nghĩa trang của xã. Đến ngôi mộ tận góc nghĩa địa lão dừng lại. Lão xoè diêm đốt hương cắm lên ngôi mộ. Lão nhổ mấy búi cỏ mọc cao trên nấm mộ. Đoạn lão rì rầm khấn vái. Khi lão quay về thì bọn thanh niên nấp ở các ngôi mộ xung quanh bèn ập đến. Chúng đọc dòng chữ ghi trên bia mộ: “Vũ Thị Thoa, sinh năm…, hy sinh ngày 13 tháng 3 năm 1953”. Bọn chúng thắc mắc hỏi nhau: “Tại sao thế nhỉ! Hy sinh tức là liệt sĩ. Nếu bà Thoa mà là liệt sĩ thì phải chôn trong nghĩa trang liệt sĩ chứ? Tại sao lại chôn ở nghĩa địa nhân dân thế này?". Bọn chúng không thể hiểu nguyên nhân ra sao. Chỉ có lão Thực là rõ mọi chuyện. Câu chuyện của hơn năm mươi năm trước lại hiện về rất rõ trong tâm trí lão.
Ngày ấy, cô Thoa là một nữ du kích xinh đẹp. Cô và anh Thực (tức lão Thực bây giờ) có tình ý với nhau. Họ cứ như đôi chim cu lúc nào cũng quấn quýt bên nhau, khi đi gài mìn trên quốc lộ 2, khi đi lên chiến khu Sơn Dương nhận súng. Họ quả là đẹp đôi. Nhưng việc một nữ chiến sĩ xinh đẹp yêu một anh bần cố nông trong đội du kích đều được cả đội vun vào thì anh đội trưởng lại thấy khó chịu. Anh đội trưởng đội du kích cũng bị cô chiến sĩ xinh đẹp hút mất hồn. Thế nhưng, tình yêu vẫn có những lối đi riêng của nó. Kẻ đẹp trai, lại có chức vụ chưa chắc đã có được tình yêu đẹp. Anh đội trưởng đội du kích vô cùng bực bội và tự ái khi thấy cô nữ du kích xinh đẹp cứ xoắn xuýt bên anh Thực mồ côi, nghèo khó. Từ đó, anh đội trưởng càng đâm ra ganh ghét người chiến sĩ dũng cảm của mình. Không biết là vô tình hay cố ý, anh đội trưởng thường giao cho chiến sĩ Thực nhiều nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm, dễ chạm với bọn địch phục kích. Ngày ấy, sau khi đồn địch ở phố Miễu bị quân ta san phẳng, bọn giặc Pháp phải rút sang bên kia sông Đáy. Khu vực xã Quan Sơn trở thành vùng giáp gianh vùng Tề, cũng là vùng bọn địch hay vượt sông sang để phục kích bắt cóc cán bộ, bắn giết dân thường. Anh du kích Thực nhiều lần được đội trưởng đội du kích giao nhiệm vụ cải trang, vượt sông đột nhập vào vùng Tề để bắt liên lạc với cơ sở của ta hoặc thi hành mệnh lệnh xử tử những tên Việt gian bán nước. Vốn là một người liều lĩnh, dũng cảm lại vô tư nên anh du kích Nguyễn Công Thực chỉ nghĩ là cấp trên tin tưởng, thử thách mình vì anh đang là một đảng viên mới. Anh không hề biết là có một ý khác trong những nhiệm vụ mà người đội trưởng đã giao cho mình.
Một hôm, anh du kích Nguyễn Công Thực được giao nhiệm vụ đặc biệt là vượt sông gặp một cơ sở bí mật tại chợ gốc gạo ven đê để nhận tài liệu từ vùng Tề gửi ra. Anh Thực không được mang theo vũ khí để nếu bị bọn địch khám xét thì cứ mạo nhận là người đi buôn trâu.
Anh Thực vượt sông khi trời còn chưa sáng hẳn. Tháng ba, nước sông Đáy còn rất cạn. Nhiều chỗ nước sâu không quá đầu gối. Khi anh Thực vừa đi thì cô Thoa biết chuyện. Cô vội vã gặp anh đội trưởng đội du kích hỏi:
- Theo tin từ vùng tạm chiếm bên kia sông báo ra là bọn địch đang rải quân phục kích dọc bên bờ sông, cơ sở của ta sẽ không thể ra chỗ hẹn được tại sao đội trưởng vẫn giao nhiệm vụ cho anh Thực sang sông?
Anh đội trưởng du kích lúng túng:
- Chuyện này anh cũng vừa mới biết!
- Không đúng! Việc này ngay từ tối hôm qua anh đã biết rồi!
- Anh… anh…
Cô Thoa gằn giọng:
- Anh cố ý để anh ấy lọt vào ổ phục kích của bọn địch phải không?
lienson | 27 July, 2011 09:20
Hoa không tặng cho em
Thơ Trọng Bảo
Hôm nay anh không tặng hoa cho em,
Những bông hoa hồng anh ôm trước ngực
Màu hoa như mặt trời đỏ rực
Màu máu của con tim.
Những bông hoa không tặng cho em
Anh dành tặng những người đồng đội.
Đồng đội anh vẫn xếp thẳng hàng, thẳng lối
Chỉnh tề đội ngũ trong nghĩa trang.
Ba mươi năm sau cuộc chiến tranh
Họ không còn đem hoa đi tìm người yêu được nữa!
Tuổi hai mươi nằm dưới đất sâu lặng lẽ
Chẳng trách ai quên đến dâng hoa...
Một bó hoa tặng người đã đi xa
Không đủ chia đều cho tất cả,
Chỉ có hương thơm ngát bay, lan toả
Đến từng bia mộ chiều nay...
Viết nhân 27/7/2009
TRỌNG BẢO
Nghề nghiệp làm báo
Quê: Thị trấn Hoa Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc
Công tác tại Hà Nội
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Su | Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 |
| 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 |
| 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 |
| 29 | 30 | 31 | ||||